Kinh thánh theo thánh Gioan
Ga 1,1-21,241,1 Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời.
Ngôi Lời vẫn hướng về
Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên
Chúa.2 Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa.
3 Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành,
và không có Người, thì chẳng có gì được
tạo thành. Điều đã được tạo thành 4 ở nơi Người là sự sống,
và sự sống là ánh sáng
cho nhân loại.5 Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối,
và bóng tối đã không
diệt được ánh sáng.6 Có một người được Thiên Chúa sai đến,
tên là Gio-an.7 Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng,
để mọi người nhờ ông mà
tin.8 Ông không phải là ánh sáng,
nhưng ông đến để làm
chứng về ánh sáng.9 Ngôi Lời là ánh sáng thật,
ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người.10 Người ở giữa thế gian,
và thế gian đã nhờ
Người mà có, nhưng lại không nhận
biết Người.11 Người đã đến nhà mình,
nhưng người nhà chẳng
chịu đón nhận.12 Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người,
thì Người cho họ quyền
trở nên con Thiên Chúa.13 Họ được sinh ra, không phải do khí huyết,
cũng chẳng do ước muốn
của nhục thể, hoặc do ước muốn của
người đàn ông, nhưng do bởi Thiên
Chúa.14 Ngôi Lời đã trở nên người phàm
và cư ngụ giữa chúng
ta. Chúng tôi đã được nhìn
thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha
ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân
sủng và sự thật.15 Ông Gio-an làm chứng về Người, ông tuyên bố :
"Đây là Đấng mà
tôi đã nói : Người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì
có trước tôi."16 Từ nguồn sung mãn của Người,
tất cả chúng ta đã lãnh
nhận hết ơn này đến ơn khác.17 Quả thế, Lề Luật đã được Thiên Chúa ban qua ông Mô-sê,
còn ân sủng và sự thật,
thì nhờ Đức Giê-su Ki-tô mà có.18 Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả ;
nhưng Con Một vốn là
Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung
lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho
chúng ta biết.19 Và đây là lời chứng của ông
Gio-an, khi người Do-thái từ Giê-ru-sa-lem cử một số tư tế và mấy thầy Lê-vi
đến hỏi ông : "Ông là ai ?" 20 Ông tuyên bố thẳng thắn, ông
tuyên bố rằng : "Tôi không phải là Đấng Ki-tô." 21 Họ lại hỏi ông : "Vậy thì
thế nào ? Ông có phải là ông Ê-li-a không ?" Ông nói : "Không
phải." - "Ông có phải là vị ngôn sứ chăng ?" Ông đáp:
"Không." 22 Họ liền
nói với ông : "Thế ông là ai, để chúng tôi còn trả lời cho những người đã
cử chúng tôi đến ? Ông nói gì về chính ông ?" 23 Ông nói : Tôi là tiếng người hô
trong hoang địa : Hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi, như ngôn sứ I-sai-a
đã nói. 24 Trong nhóm
được cử đi, có mấy người thuộc phái Pha-ri-sêu. 25 Họ hỏi ông : "Vậy tại sao
ông làm phép rửa, nếu ông không phải là Đấng Ki-tô, cũng không phải là ông
Ê-li-a hay vị ngôn sứ ?" 26 Ông Gio-an trả lời : "Tôi đây làm phép
rửa trong nước. Nhưng có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết. 27 Người sẽ đến sau tôi và tôi
không đáng cởi quai dép cho Người." 28 Các việc đó đã xảy ra tại
Bê-ta-ni-a, bên kia sông Gio-đan, nơi ông Gio-an làm phép rửa.
29 Hôm sau, ông Gio-an thấy Đức
Giê-su tiến về phía mình, liền nói : "Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng
xoá bỏ tội trần gian. 30 Chính
Người là Đấng tôi đã nói tới khi bảo rằng : Có người đến sau tôi, nhưng trổi
hơn tôi, vì có trước tôi.
31 Tôi đã không biết Người, nhưng
để Người được tỏ ra cho dân Ít-ra-en, tôi đến làm phép rửa trong nước." 32 Ông Gio-an còn làm chứng :
"Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người. 33 Tôi đã không biết Người. Nhưng
chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi : "Ngươi thấy
Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong
Thánh Thần." 34 Tôi đã
thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn."
35 Hôm sau, ông Gio-an lại đang
đứng với hai người trong nhóm môn đệ của ông. 36 Thấy Đức Giê-su đi ngang qua,
ông lên tiếng nói : "Đây là Chiên Thiên Chúa." 37 Hai môn đệ nghe ông nói, liền
đi theo Đức Giê-su. 38 Đức Giê-su
quay lại, thấy các ông đi theo mình, thì hỏi : "Các anh tìm gì thế ?"
Họ đáp : "Thưa Ráp-bi (nghĩa là thưa Thầy),
Thầy ở đâu ?" 39 Người bảo
họ : "Đến mà xem." Họ đã đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày
hôm ấy. Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười.
40 Ông An-rê, anh ông Si-môn
Phê-rô, là một trong hai người đã nghe ông Gio-an nói và đi theo Đức Giê-su. 41 Trước hết, ông gặp em mình là
ông Si-môn và nói : "Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a" (nghĩa là Đấng Ki-tô). 42 Rồi ông dẫn em mình đến gặp Đức
Giê-su. Đức Giê-su nhìn ông Si-môn và nói : "Anh là Si-môn, con ông
Gio-an, anh sẽ được gọi là Kê-pha" (tức là
Phê-rô).
43 Hôm sau, Đức Giê-su quyết định
đi tới miền Ga-li-lê. Người gặp ông Phi-líp-phê và nói : "Anh hãy theo
tôi." 44 Ông
Phi-líp-phê là người Bết-xai-đa, cùng quê với các ông An-rê và Phê-rô.
45 Ông Phi-líp-phê gặp ông
Na-tha-na-en và nói : "Đấng mà sách Luật Mô-sê và các ngôn sứ nói tới,
chúng tôi đã gặp : đó là ông Giê-su, con ông Giu-se, người Na-da-rét." 46 Ông Na-tha-na-en liền bảo :
"Từ Na-da-rét, làm sao có cái gì hay được ?" Ông Phi-líp-phê trả lời
: "Cứ đến mà xem !" 47 Đức Giê-su thấy ông Na-tha-na-en tiến về phía
mình, liền nói về ông rằng : "Đây đích thật là một người Ít-ra-en, lòng dạ
không có gì gian dối." 48 Ông Na-tha-na-en hỏi Người : "Làm sao
Ngài lại biết tôi ?" Đức Giê-su trả lời : "Trước khi Phi-líp-phê gọi
anh, lúc anh đang ở dưới cây vả, tôi đã thấy anh rồi." 49 Ông Na-tha-na-en nói :
"Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa, chính Thầy là Vua Ít-ra-en
!" 50 Đức Giê-su
đáp : "Vì tôi nói với anh là tôi đã thấy anh ở dưới cây vả, nên anh tin !
Anh sẽ còn được thấy những điều lớn lao hơn thế nữa." 51 Người lại nói : "Thật, tôi
bảo thật các anh, các anh sẽ thấy trời rộng mở, và các thiên thần của Thiên
Chúa lên lên xuống xuống trên Con Người."
2,1 Ngày thứ ba, có tiệc cưới tại
Ca-na miền Ga-li-lê. Trong tiệc cưới có thân mẫu Đức Giê-su. 2 Đức Giê-su và các môn đệ cũng
được mời tham dự. 3 Khi thấy
thiếu rượu, thân mẫu Đức Giê-su nói với Người : "Họ hết rượu rồi." 4 Đức Giê-su đáp : "Thưa bà,
chuyện đó can gì đến bà và tôi ? Giờ của tôi chưa đến." 5 Thân mẫu Người nói với gia nhân
: "Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo."
6 Ở đó có đặt sáu chum đá dùng
vào việc thanh tẩy theo thói tục người Do-thái, mỗi chum chứa được khoảng tám
mươi hoặc một trăm hai mươi lít nước. 7 Đức Giê-su bảo họ : "Các
anh đổ đầy nước vào chum đi !" Và họ đổ đầy tới miệng. 8 Rồi Người nói với họ :
"Bây giờ các anh múc và đem cho ông quản tiệc." Họ liền đem cho ông. 9 Khi người quản tiệc nếm thử
nước đã hoá thành rượu (mà không biết rượu từ đâu ra,
còn gia nhân đã múc nước thì biết), ông mới gọi tân lang lại 10 và nói : "Ai ai cũng thết
rượu ngon trước, và khi khách đã ngà ngà mới đãi rượu xoàng hơn. Còn anh, anh
lại giữ rượu ngon mãi cho đến bây giờ." 11 Đức Giê-su đã làm dấu lạ đầu
tiên này tại Ca-na miền Ga-li-lê và bày tỏ vinh quang của Người. Các môn đệ đã
tin vào Người. 12 Sau đó,
Người cùng với thân mẫu, anh em và các môn đệ xuống Ca-phác-na-um và ở lại đó
ít ngày.
13 Gần đến lễ Vượt Qua của người
Do-thái, Đức Giê-su lên thành Giê-ru-sa-lem. 14 Người thấy trong Đền Thờ có
những kẻ bán chiên, bò, bồ câu, và những người đang ngồi đổi tiền. 15 Người liền lấy dây làm roi mà
xua đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên bò ra khỏi Đền Thờ ; còn tiền của những
người đổi bạc, Người đổ tung ra, và lật nhào bàn ghế của họ. 16 Người nói với những kẻ bán bồ
câu : "Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành
nơi buôn bán." 17 Các môn đệ
của Người nhớ lại lời đã chép trong Kinh Thánh : Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa,
mà tôi đây sẽ phải thiệt thân.
18 Người Do-thái hỏi Đức Giê-su :
"Ông lấy dấu lạ nào chứng tỏ cho chúng tôi thấy là ông có quyền làm như
thế ?" 19 Đức Giê-su
đáp : "Các ông cứ phá huỷ Đền Thờ này đi ; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng
lại." 20 Người
Do-thái nói : "Đền Thờ này phải mất bốn mươi sáu năm mới xây xong, thế mà
nội trong ba ngày ông xây lại được sao ?" 21 Nhưng Đền Thờ Đức Giê-su muốn
nói ở đây là chính thân thể Người. 22 Vậy, khi Người từ cõi chết chỗi
dậy, các môn đệ nhớ lại Người đã nói điều đó, Họ tin vào Kinh Thánh và lời Đức
Giê-su đã nói. 23 Trong lúc
Đức Giê-su ở Giê-ru-sa-lem vào dịp lễ Vượt Qua, có nhiều kẻ tin vào danh Người
bởi đã chứng kiến các dấu lạ Người làm. 24 Nhưng chính Đức Giê-su không
tin họ, vì Người biết họ hết thảy, 25 và không cần ai làm chứng về
con người. Quả thật, chính Người biết có gì trong lòng con người.
3,1 Trong nhóm Pha-ri-sêu, có một
người tên là Ni-cô-đê-mô, một thủ lãnh của người Do-thái. 2 Ông đến gặp Đức Giê-su ban đêm.
Ông nói với Người : "Thưa Thầy, chúng tôi biết : Thầy là một vị tôn sư
được Thiên Chúa sai đến. Quả vậy, chẳng ai làm được những dấu lạ Thầy làm, nếu
Thiên Chúa không ở cùng người ấy." 3 Đức Giê-su trả lời :
"Thật, tôi bảo thật ông : không ai có thể thấy Nước Thiên Chúa, nếu không
được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên." 4 Ông Ni-cô-đê-mô thưa :
"Một người đã già rồi, làm sao có thể sinh ra được ? Chẳng lẽ người đó có
thể trở vào lòng mẹ lần thứ hai để sinh ra sao ?" 5 Đức Giê-su đáp : "Thật,
tôi bảo thật ông : không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi
nước và Thần Khí. 6 Cái bởi
xác thịt sinh ra là xác thịt ; cái bởi Thần Khí sinh ra là thần khí. 7 Ông đừng ngạc nhiên vì tôi đã
nói : các ông cần phải được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên. 8 Gió muốn thổi đâu thì thổi ;
ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu. Ai bởi Thần
Khí mà sinh ra thì cũng vậy."
9 Ông Ni-cô-đê-mô hỏi Người :
"Làm sao những chuyện ấy có thể xảy ra được ?" 10 Đức Giê-su đáp : "Ông là bậc
thầy trong dân Ít-ra-en, mà lại không biết những chuyện ấy ! 11 Thật, tôi bảo thật ông : chúng
tôi nói những điều chúng tôi biết, chúng tôi làm chứng về những điều chúng tôi
đã thấy, nhưng các ông không nhận lời chứng của chúng tôi. 12 Nếu tôi nói với các ông về
những chuyện dưới đất mà các ông còn không tin, thì giả như tôi nói với các ông
về những chuyện trên trời, làm sao các ông tin được ?" 13 Không ai đã lên trời, ngoại trừ
Con Người, Đấng từ trời xuống. 14 Như ông Mô-sê đã giương cao con rắn trong sa
mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, 15 để ai tin vào Người thì được
sống muôn đời.
16 Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi
đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống
muôn đời. 17 Quả vậy,
Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng
là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ. 18 Ai tin vào Con của Người, thì
không bị lên án ; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào
danh của Con Một Thiên Chúa. 19 Và đây là bản án : ánh sáng đã đến thế gian,
nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa. 20 Quả thật, ai làm điều ác, thì
ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng, để các việc họ làm khỏi bị chê trách.
21 Nhưng kẻ
sống theo sự thật, thì đến cùng ánh sáng, để thiên hạ thấy rõ : các việc của
người ấy đã được thực hiện trong Thiên Chúa."
22 Sau đó, Đức Giê-su và các môn
đệ đi tới miền Giu-đê. Người ở lại nơi ấy với các ông và làm phép rửa. 23 Còn ông Gio-an, ông cũng đang làm
phép rửa tại Ê-nôn, gần Sa-lim, vì ở đấy có nhiều nước, và người ta thường đến
chịu phép rửa. 24 Lúc ấy,
ông Gio-an chưa bị tống giam.
25 Bấy giờ, có một cuộc tranh luận
xảy ra giữa các môn đệ của ông Gio-an và một người Do-thái về việc thanh tẩy. 26 Họ đến gặp ông Gio-an và nói :
"Thưa thầy, người trước đây đã ở với thầy bên kia sông Gio-đan và được
thầy làm chứng cho, bây giờ ông ấy cũng đang làm phép rửa, và thiên hạ đều đến
với ông." 27 Ông Gio-an
trả lời: "Chẳng ai có thể nhận được gì mà không do Trời ban. 28 Chính anh em làm chứng cho thầy
là thầy đã nói : 'Tôi đây không phải là Đấng Ki-tô, mà là kẻ được sai đi trước
mặt Người.' 29 Ai cưới cô
dâu, người ấy là chú rể. Còn người bạn của chú rể đứng đó nghe chàng, thì vui
mừng hớn hở vì được nghe tiếng nói của chàng. Đó là niềm vui của thầy, niềm vui
ấy bây giờ đã trọn vẹn. 30 Người phải
nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi.
31 Đấng từ trên cao mà đến thì ở
trên mọi người ; kẻ từ đất mà ra thì thuộc về đất và nói những chuyện dưới đất.
Đấng từ trời mà đến thì ở trên mọi người ; 32 Người làm chứng về những gì
Người đã thấy đã nghe, nhưng chẳng ai nhận lời chứng của Người. 33 Ai nhận lời chứng của Người,
thì xác nhận Thiên Chúa là Đấng chân thật. 34 Quả vậy, Đấng được Thiên Chúa
sai đi, thì nói những lời của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa ban Thần Khí cho Người
vô ngần vô hạn. 35 Chúa Cha
yêu thương người Con và đã giao mọi sự trong tay Người. 36 Ai tin vào người Con thì được
sự sống đời đời ; còn kẻ nào không chịu tin vào người Con thì không được sự
sống, nhưng cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đè nặng trên kẻ ấy."
4,1 Nhóm Pha-ri-sêu nghe tin Đức
Giê-su thâu nạp và làm phép rửa cho nhiều môn đệ hơn ông Gio-an. 2 (Thực
ra, không phải chính Đức Giê-su làm phép rửa, nhưng là các môn đệ của Người).
3 Biết thế,
Đức Giê-su bỏ miền Giu-đê mà trở lại miền Ga-li-lê. 4 Do đó, Người phải băng qua
Sa-ma-ri. 5 Vậy, Người
đến một thành xứ Sa-ma-ri, tên là Xy-kha, gần thửa đất ông Gia-cóp đã cho con
là ông Giu-se. 6 Ở đấy, có
giếng của ông Gia-cóp. Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng.
Lúc đó vào khoảng mười hai giờ trưa.
7 Có một người phụ nữ Sa-ma-ri
đến lấy nước. Đức Giê-su nói với người ấy : "Chị cho tôi xin chút nước
uống !" 8 Lúc đó,
các môn đệ của Người đã vào thành mua thức ăn. 9 Người phụ nữ Sa-ma-ri liền nói
: "Ông là người Do-thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước
uống sao ?" Quả thế, người Do-thái không được giao thiệp với người
Sa-ma-ri. 10 Đức Giê-su
trả lời : "Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với
chị : "Cho tôi chút nước uống", thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã
ban cho chị nước hằng sống." 11 Chị ấy nói : "Thưa ông,
ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống ? 12 Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ
chúng tôi là Gia-cóp, người đã cho chúng tôi giếng này ? Chính Người đã uống
nước giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy." 13 Đức Giê-su trả lời : "Ai
uống nước này, sẽ lại khát. 14 Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ
khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem
lại sự sống đời đời."
15 Người phụ nữ nói với Đức Giê-su
: "Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến
đây lấy nước." 16 Người bảo
chị ấy : "Chị hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây." 17 Người phụ nữ đáp : "Tôi
không có chồng." Đức Giê-su bảo : "Chị nói : ' Tôi không có chồng '
là phải, 18 vì chị đã
năm đời chồng rồi, và người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị
đã nói đúng." 19 Người phụ
nữ nói với Người : "Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ ... 20 Cha ông chúng tôi đã thờ phượng
Thiên Chúa trên núi này ; còn các ông lại bảo : Giê-ru-sa-lem mới chính là nơi
phải thờ phượng Thiên Chúa." 21 Đức Giê-su phán : "Này
chị, hãy tin tôi : đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên
núi này hay tại Giê-ru-sa-lem. 22 Các người thờ Đấng các người không biết ; còn
chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Do-thái. 23 Nhưng giờ đã đến -và chính là
lúc này đây- giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong
thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. 24 Thiên Chúa là thần khí, và
những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật." 25 Người phụ nữ thưa : "Tôi
biết Đấng Mê-si-a, gọi là Đức Ki-tô, sẽ đến. Khi Người đến, Người sẽ loan báo
cho chúng tôi mọi sự." 26 Đức Giê-su nói : "Đấng ấy chính là tôi,
người đang nói với chị đây."
27 Vừa lúc đó, các môn đệ trở về.
Các ông ngạc nhiên vì thấy Người nói chuyện với một phụ nữ. Tuy thế, không ai
dám hỏi : "Thầy cần gì vậy ?" Hoặc "Thầy nói gì với chị ấy
?" 28 Người phụ
nữ để vò nước lại, vào thành và nói với người ta : 29 "Đến mà xem : có một người
đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Ki-tô sao
?" 30 Họ ra khỏi
thành và đến gặp Người.
31 Trong khi đó, các môn đệ thưa
với Người rằng : "Ráp-bi, xin mời Thầy dùng bữa." 32 Người nói với các ông :
"Thầy phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết." 33 Các môn đệ mới hỏi nhau :
"Đã có ai mang thức ăn đến cho Thầy rồi chăng ?" 34 Đức Giê-su nói với các ông :
"Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất
công trình của Người. 35 Nào anh em
chẳng nói : Còn bốn tháng nữa mới đến mùa gặt ? Nhưng này, Thầy bảo anh em :
Ngước mắt lên mà xem, đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái ! 36 Ai gặt thì lãnh tiền công và
thu hoa lợi để được sống muôn đời, và như thế, cả người gieo lẫn kẻ gặt đều hớn
hở vui mừng. 37 Thật vậy,
câu tục ngữ "kẻ này gieo, người kia gặt" quả là đúng ! 38 Thầy sai anh em đi gặt những gì
chính anh em đã không phải vất vả làm ra. Người khác đã làm lụng vất vả ; còn
anh em, anh em được vào hưởng kết quả công lao của họ."
39 Có nhiều người Sa-ma-ri trong
thành đó đã tin vào Đức Giê-su, vì lời người phụ nữ làm chứng : ông ấy nói với
tôi mọi việc tôi đã làm. 40 Vậy, khi
đến gặp Người, dân Sa-ma-ri xin Người ở lại với họ, và Người đã ở lại đó hai
ngày. 41 Số người
tin vì lời Đức Giê-su nói còn đông hơn nữa. 42 Họ bảo người phụ nữ :
"Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi
đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian."
43 Sau hai ngày, Đức Giê-su bỏ nơi
đó đi Ga-li-lê. 44 Chính
Người đã quả quyết : ngôn sứ không được tôn trọng tại quê hương mình. 45 Khi Người đến Ga-li-lê, dân
chúng trong miền đón tiếp Người, vì đã được chứng kiến tất cả những gì Người
làm tại Giê-ru-sa-lem trong dịp lễ, bởi lẽ chính họ cũng đã đi dự lễ.
46 Vậy Đức Giê-su trở lại Ca-na
miền Ga-li-lê, là nơi Người đã làm cho nước hoá thành rượu. Bấy giờ có một sĩ
quan cận vệ của nhà vua có đứa con trai đang bị bệnh tại Ca-phác-na-um. 47 Khi nghe tin Đức Giê-su từ
Giu-đê đến Ga-li-lê, ông tới gặp và xin Người xuống chữa con ông vì nó sắp
chết. 48 Đức Giê-su
nói với ông : "Các ông mà không thấy dấu lạ điềm thiêng thì các ông sẽ chẳng
tin đâu !" 49 Viên sĩ
quan nói : "Thưa Ngài, xin Ngài xuống cho, kẻo cháu nó chết mất !" 50 Đức Giê-su bảo : "Ông cứ
về đi, con ông sống." Ông tin vào lời Đức Giê-su nói với mình, và ra về. 51 Ông còn đang đi xuống, thì gia
nhân đã đón gặp và nói là con ông sống rồi. 52 Ông hỏi họ con ông đã bắt đầu
khá hơn vào giờ nào. Họ đáp : "Hôm qua, vào lúc một giờ trưa thì cậu hết
sốt." 53 Người cha
nhận ra là vào đúng giờ đó, Đức Giê-su đã nói với mình : "Con ông
sống", nên ông và cả nhà đều tin. 54 Đó là dấu lạ thứ hai Đức Giê-su
đã làm, khi Người từ miền Giu-đê đến miền Ga-li-lê.
5,1 Sau đó, nhân dịp lễ của người
Do-thái, Đức Giê-su lên Giê-ru-sa-lem. 2 Tại Giê-ru-sa-lem, gần Cửa
Chiên, có một hồ nước, tiếng Híp-ri gọi là Bết-da-tha. Hồ này có năm hành lang.
3 Nhiều
người đau ốm, đui mù, què quặt, bất toại nằm la liệt ở đó, chờ cho nước động, 4 vì thỉnh thoảng có thiên thần
Chúa xuống hồ khuấy nước lên ; khi nước khuấy lên, ai xuống trước, thì dù mắc
bệnh gì đi nữa, cũng được khỏi. 5 Ở đó, có một người đau ốm đã ba mươi tám năm. 6 Đức Giê-su thấy anh ta nằm đấy
và biết anh sống trong tình trạng đó đã lâu, thì nói : "Anh có muốn khỏi
bệnh không ?" 7 Bệnh nhân
đáp : "Thưa Ngài, khi nước khuấy lên, không có người đem tôi xuống hồ. Lúc
tôi tới đó, thì đã có người khác xuống trước mất rồi !" 8 Đức Giê-su bảo : "Anh hãy
chỗi dậy, vác chõng mà đi !" 9 Người ấy liền được khỏi bệnh,
vác chõng và đi được.
Hôm đó lại là ngày sa-bát. 10 Người Do-thái mới nói với kẻ
được khỏi bệnh : "Hôm nay là ngày sa-bát, anh không được phép vác chõng
!" 11 Nhưng anh
đáp : "Chính người chữa tôi khỏi bệnh đã nói với tôi : 'Anh hãy vác chõng
mà đi !'" 12 Họ hỏi anh
: "Ai là người đã bảo anh: ' Vác chõng mà đi ' ?" 13 Nhưng người đã được khỏi bệnh
không biết là ai. Quả thế, Đức Giê-su đã lánh đi, vì có đám đông ở đấy. 14 Sau đó, Đức Giê-su gặp người ấy
trong Đền Thờ và nói : "Này, anh đã được khỏi bệnh. Đừng phạm tội nữa, kẻo
lại phải khốn hơn trước !" 15 Anh ta đi nói với người Do-thái : Đức Giê-su
là người đã chữa anh khỏi bệnh. 16 Do đó, người Do-thái chống đối Đức Giê-su, vì
Người hay chữa bệnh ngày sa-bát. 17 Nhưng Đức Giê-su đáp lại :
"Cho đến nay, Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc." 18 Bởi vậy, người Do-thái lại càng
tìm cách giết Đức Giê-su, vì không những Người phá luật sa-bát, lại còn nói
Thiên Chúa là Cha của mình, và như thế là tự coi mình ngang hàng với Thiên
Chúa.
19 Đức Giê-su lên tiếng nói với họ
rằng : "Thật, tôi bảo thật các ông : người Con không thể tự mình làm bất
cứ điều gì, ngoại trừ điều Người thấy Chúa Cha làm ; vì điều gì Chúa Cha làm,
thì người Con cũng làm như vậy. 20 Quả thật, Chúa Cha yêu người Con và cho người
Con thấy mọi điều mình làm, lại sẽ còn cho người Con thấy những việc lớn lao
hơn nữa, khiến chính các ông cũng phải kinh ngạc. 21 Chúa Cha làm cho kẻ chết chỗi
dậy và ban sự sống cho họ thế nào, thì người Con cũng ban sự sống cho ai tuỳ ý.
22 Quả thật,
Chúa Cha không xét xử một ai, nhưng đã ban cho người Con mọi quyền xét xử, 23 để ai nấy đều tôn kính người
Con như tôn kính Chúa Cha. Kẻ nào không tôn kính người Con, thì cũng không tôn
kính Chúa Cha, Đấng đã sai người Con. 24 Thật, tôi bảo thật các ông : ai
nghe lời tôi và tin vào Đấng đã sai tôi, thì có sự sống đời đời và khỏi bị xét
xử, nhưng đã từ cõi chết bước vào cõi sống.
25 Thật, tôi bảo thật các ông :
giờ đã đến - và chính là lúc này đây - giờ các kẻ chết nghe tiếng Con Thiên
Chúa ; ai nghe thì sẽ được sống. 26 Quả thật, Chúa Cha có sự sống
nơi mình thế nào, thì cũng ban cho người Con được có sự sống nơi mình như vậy, 27 lại ban cho người Con được
quyền xét xử, vì người Con là Con Người. 28 Các ông chớ ngạc nhiên về điều
này, vì giờ đã đến, giờ mọi kẻ ở trong mồ sẽ nghe tiếng người Con 29 và sẽ ra khỏi đó : ai đã làm
điều lành, thì sẽ sống lại để được sống ; ai đã làm điều dữ, thì sẽ sống lại để
bị kết án.
30 Tôi không thể tự ý mình làm gì.
Tôi xét xử theo như tôi được nghe, và phán quyết của tôi thật công minh, vì tôi
không tìm cách làm theo ý riêng tôi, nhưng theo ý Đấng đã sai tôi.
31 Nếu tôi làm chứng về chính
mình, thì lời chứng của tôi không thật. 32 Có Đấng khác làm chứng về tôi,
và tôi biết : lời Người làm chứng về tôi là lời chứng thật. 33 Chính các ông đã cử người đến
gặp ông Gio-an, và ông ấy đã làm chứng cho sự thật. 34 Phần tôi, tôi không cần lời
chứng của một phàm nhân, nhưng tôi nói ra những điều này để các ông được cứu
độ. 35 Ông Gio-an
là ngọn đèn cháy sáng, và các ông đã muốn vui hưởng ánh sáng của ông trong một
thời gian. 36 Nhưng phần
tôi, tôi có một lời chứng lớn hơn lời chứng của ông Gio-an : đó là những việc
Chúa Cha đã giao cho tôi để tôi hoàn thành ; chính những việc tôi làm đó làm
chứng cho tôi rằng Chúa Cha đã sai tôi. 37 Chúa Cha, Đấng đã sai tôi,
chính Người cũng đã làm chứng cho tôi. Các ông đã không bao giờ nghe tiếng
Người, cũng chẳng bao giờ thấy tôn nhan Người. 38 Các ông đã không để cho lời
Người ở mãi trong lòng, bởi vì chính các ông không tin vào Đấng Người đã sai
đến. 39 Các ông
nghiên cứu Kinh Thánh, vì nghĩ rằng trong đó các ông sẽ tìm được sự sống đời
đời. Mà chính Kinh Thánh lại làm chứng về tôi. 40 Các ông không muốn đến cùng tôi
để được sự sống.
41 Tôi không cần người đời tôn
vinh. 42 Nhưng tôi
biết : các ông không có lòng yêu mến Thiên Chúa. 43 Tôi đã đến nhân danh Cha tôi,
nhưng các ông không đón nhận. Nếu có ai khác nhân danh mình mà đến, thì các ông
lại đón nhận. 44 Các ông
tôn vinh lẫn nhau và không tìm kiếm vinh quang phát xuất từ Thiên Chúa duy
nhất, thì làm sao các ông có thể tin được ?
45 Các ông đừng tưởng là tôi sẽ tố
cáo các ông với Chúa Cha. Kẻ tố cáo các ông chính là ông Mô-sê, người mà các
ông tin cậy. 46 Vì nếu các
ông tin ông Mô-sê, thì hẳn các ông cũng tin tôi, bởi lẽ ông ấy đã viết về tôi. 47 Nhưng nếu điều ông ấy viết mà
các ông không tin, thì làm sao tin được lời tôi nói ?"
6,1 Sau đó, Đức Giê-su sang bên kia
Biển Hồ Ga-li-lê, cũng gọi là Biển Hồ Ti-bê-ri-a. 2 Có đông đảo dân chúng đi theo
Người, bởi họ từng được chứng kiến những dấu lạ Người đã làm cho những kẻ đau
ốm. 3 Đức Giê-su
lên núi và ngồi đó với các môn đệ. 4 Lúc ấy, sắp đến lễ Vượt Qua là
đại lễ của người Do-thái.
5 Ngước mắt lên, Đức Giê-su nhìn
thấy đông đảo dân chúng đến với mình. Người hỏi ông Phi-líp-phê : "Ta mua
đâu ra bánh cho họ ăn đây ?" 6 Người nói thế là để thử ông,
chứ Người đã biết mình sắp làm gì rồi. 7 Ông Phi-líp-phê đáp :
"Thưa, có mua đến hai trăm quan tiền bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một
chút." 8 Một trong
các môn đệ, là ông An-rê, anh ông Si-môn Phê-rô, thưa với Người : 9 "Ở đây có một em bé có năm
chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng với ngần ấy người thì thấm vào đâu
!" 10 Đức Giê-su
nói : "Anh em cứ bảo người ta ngồi xuống đi." Chỗ ấy có nhiều cỏ.
Người ta ngồi xuống, nguyên số đàn ông đã tới khoảng năm ngàn. 11 Vậy, Đức Giê-su cầm lấy bánh,
dâng lời tạ ơn, rồi phân phát cho những người ngồi đó. Cá nhỏ, Người cũng phân
phát như vậy, ai muốn ăn bao nhiêu tuỳ ý. 12 Khi họ đã no nê rồi, Người bảo
các môn đệ : "Anh em thu lại những miếng thừa kẻo phí đi." 13 Họ liền đi thu những miếng thừa
của năm chiếc bánh lúa mạch người ta ăn còn lại, và chất đầy được mười hai
thúng. 14 Dân chúng
thấy dấu lạ Đức Giê-su làm thì nói : "Hẳn ông này là vị ngôn sứ, Đấng phải
đến thế gian !" 15 Nhưng Đức
Giê-su biết họ sắp đến bắt mình đem đi mà tôn làm vua, nên Người lại lánh mặt,
đi lên núi một mình.
16 Chiều đến, các môn đệ xuống bờ
Biển Hồ, 17 rồi xuống
thuyền đi về phía Ca-phác-na-um bên kia Biển Hồ. Trời đã tối mà Đức Giê-su chưa
đến với các ông. 18 Biển động,
vì gió thổi mạnh. 19 Khi đã
chèo được chừng năm hoặc sáu cây số, các ông thấy Đức Giê-su đi trên mặt Biển
Hồ và đang tới gần thuyền. Các ông hoảng sợ. 20 Nhưng Người bảo các ông :
"Thầy đây mà, đừng sợ !" 21 Các ông muốn rước Người lên
thuyền, nhưng ngay lúc đó thuyền đã tới bờ, nơi các ông định đến.
22 Hôm sau, đám đông dân chúng còn
đứng ở bờ bên kia Biển Hồ, thấy rằng ở đó chỉ có một chiếc thuyền và Đức Giê-su
lại không cùng xuống thuyền đó với các môn đệ, nhưng chỉ có các ông đi mà thôi.
23 Tuy nhiên,
có những thuyền khác từ Ti-bê-ri-a đến gần nơi dân chúng đã được ăn bánh sau
khi Chúa dâng lời tạ ơn. 24 Vậy khi
dân chúng thấy Đức Giê-su cũng như các môn đệ đều không có ở đó, thì họ xuống
thuyền đi Ca-phác-na-um tìm Người. 25 Khi gặp thấy Người ở bên kia
Biển Hồ, họ nói : "Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy ?" 26 Đức Giê-su đáp : "Thật,
tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ,
nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê. 27 Các ông hãy ra công làm việc
không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại
phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính
Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận." 28 Họ liền hỏi Người : "Chúng
tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn ?" 29 Đức Giê-su trả lời : "Việc
Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến." 30 Họ lại hỏi : "Vậy chính ông,
ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông ? Ông sẽ làm gì đây ? 31 Tổ tiên chúng tôi đã ăn man-na
trong sa mạc, như có lời chép : Người đã cho họ ăn bánh bởi trời."
32 Đức Giê-su đáp : "Thật,
tôi bảo thật các ông, không phải ông Mô-sê đã cho các ông ăn bánh bởi trời đâu,
mà chính là Cha tôi cho các ông ăn bánh bởi trời, bánh đích thực, 33 vì bánh Thiên Chúa ban là bánh
từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian." 34 Họ liền nói : "Thưa Ngài,
xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy." 35 Đức Giê-su bảo họ : "Chính
tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói ; ai tin vào tôi,
chẳng khát bao giờ ! 36 Nhưng tôi
đã bảo các ông : các ông đã thấy tôi mà không tin. 37 Tất cả những người Chúa Cha ban
cho tôi đều sẽ đến với tôi, và ai đến với tôi, tôi sẽ không loại ra ngoài, 38 vì tôi tự trời mà xuống, không
phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi. 39 Mà ý của Đấng đã sai tôi là tất
cả những kẻ Người đã ban cho tôi, tôi sẽ không để mất một ai, nhưng sẽ cho họ
sống lại trong ngày sau hết. 40 Thật vậy, ý của Cha tôi là tất cả những ai
thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho họ
sống lại trong ngày sau hết."
41 Người Do-thái liền xầm xì phản
đối, bởi vì Đức Giê-su đã nói : "Tôi là bánh từ trời xuống." 42 Họ nói : "Ông này chẳng
phải là ông Giê-su, con ông Giu-se đó sao ? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết
cả, sao bây giờ ông ta lại nói : "Tôi từ trời xuống ?" 43 Đức Giê-su bảo họ : "Các
ông đừng có xầm xì với nhau ! 44 Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha là
Đấng đã sai tôi, không lôi kéo người ấy, và tôi, tôi sẽ cho người ấy sống lại
trong ngày sau hết. 45 Xưa có lời
chép trong sách các ngôn sứ : Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ. Vậy phàm
ai nghe và đón nhận giáo huấn của Chúa Cha, thì sẽ đến với tôi. 46 Không phải là đã có ai thấy
Chúa Cha đâu, nhưng chỉ có Đấng từ nơi Thiên Chúa mà đến, chính Đấng ấy đã thấy
Chúa Cha. 47 Thật, tôi
bảo thật các ông, ai tin thì được sự sống đời đời. 48 Tôi là bánh trường sinh. 49 Tổ tiên các ông đã ăn man-na
trong sa mạc, nhưng đã chết. 50 Còn bánh này là bánh từ trời xuống, để ai ăn
thì khỏi phải chết. 51 Tôi là
bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh
tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống."
52 Người Do-thái liền tranh luận
sôi nổi với nhau. Họ nói : "Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt
ông ta được ?" 53 Đức Giê-su
nói với họ : "Thật, tôi bảo thật các ông : nếu các ông không ăn thịt và
uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. 54 Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì
được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, 55 vì thịt tôi thật là của ăn, và
máu tôi thật là của uống. 56 Ai ăn thịt
và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. 57 Như Chúa Cha là Đấng hằng sống
đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà
được sống như vậy. 58 Đây là
bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết.
Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời."
59 Đó là những điều Đức Giê-su đã
nói khi giảng dạy trong hội đường, ở Ca-phác-na-um.
60 Nghe rồi, nhiều môn đệ của
Người liền nói : "Lời này chướng tai quá ! Ai mà nghe nổi ?" 61 Nhưng Đức Giê-su tự mình biết
được là các môn đệ đang xầm xì về vấn đề ấy, Người bảo các ông : "Điều đó,
anh em lấy làm chướng, không chấp nhận được ư ? 62 Vậy nếu anh em thấy Con Người
lên nơi đã ở trước kia thì sao ? 63 Thần khí mới làm cho sống, chứ
xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống.
64 Nhưng trong anh em có những kẻ
không tin." Quả thật, ngay từ đầu, Đức Giê-su đã biết những kẻ nào không
tin, và kẻ nào sẽ nộp Người. 65 Người nói tiếp : "Vì thế, Thầy đã bảo anh
em : không ai đến với Thầy được, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho." 66 Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút
lui, không còn đi theo Người nữa.
67 Vậy Đức Giê-su hỏi Nhóm Mười
Hai : "Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao ?" 68 Ông Si-môn Phê-rô liền đáp :
"Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai ? Thầy mới có những lời
đem lại sự sống đời đời. 69 Phần chúng
con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên
Chúa." 70 Đức Giê-su
đáp : "Chẳng phải Thầy đã chọn anh em là Nhóm Mười Hai sao ? Thế mà một
người trong anh em lại là quỷ !" 71 Người muốn nói về Giu-đa, con
ông Si-môn Ít-ca-ri-ốt ; thật thế, chính y, một môn đệ trong Nhóm Mười Hai, sẽ
nộp Người.
7,1 Sau đó, Đức Giê-su thường đi
lại trong miền Ga-li-lê ; thật vậy, Người không muốn đi lại trong miền Giu-đê,
vì người Do-thái tìm giết Người.
2 Lễ Lều của người Do-thái gần
tới, 3 anh em Đức
Giê-su nói với Người : "Ông bỏ đây mà sang miền Giu-đê đi, để cả môn đệ
của ông cũng được nhìn thấy những việc ông làm, 4 vì không ai muốn nổi danh mà
lại hoạt động âm thầm cả. Nếu ông làm những việc ấy, thì hãy tỏ mình ra cho
thiên hạ biết." 5 Thật thế,
anh em Người không tin vào Người. 6 Đức Giê-su nói với họ :
"Thời của tôi chưa đến, nhưng thời của các anh lúc nào cũng thuận tiện. 7 Thế gian không thể ghét các
anh, nhưng tôi thì nó ghét, vì tôi làm chứng rằng các việc nó làm thì xấu xa. 8 Các anh cứ lên dự lễ đi ; còn
tôi, tôi không lên dự lễ này, vì thời của tôi chưa chín muồi." 9 Nói thế rồi, Người ở lại miền
Ga-li-lê. 10 Tuy nhiên,
khi anh em Người đã lên dự lễ, thì chính Người cũng lên, nhưng không công khai
và hầu như bí mật. 11 Người
Do-thái tìm kiếm Người trong dịp lễ và nói : "Ông ấy đâu rồi ?" 12 Dân chúng bàn tán nhiều về
Người. Kẻ thì bảo : "Đó là một người tốt." Kẻ thì nói : "Không,
ông ta mê hoặc dân chúng." 13 Nhưng không ai dám công khai nói về Người, vì
sợ người Do-thái.
14 Vào giữa kỳ lễ, Đức Giê-su lên
Đền Thờ và giảng dạy. 15 Người
Do-thái lấy làm ngạc nhiên. Họ nói : "Ông này không học hành gì, mà sao
lại thông thạo chữ nghĩa thế !" 16 Đức Giê-su trả lời : "Đạo
lý tôi dạy không phải là của tôi, nhưng là của Đấng đã sai tôi. 17 Ai muốn làm theo ý của Người,
thì sẽ biết rằng đạo lý ấy là bởi Thiên Chúa hay do tôi tự mình giảng dạy. 18 Ai tự mình giảng dạy, thì tìm
vinh quang cho chính mình. Còn ai tìm vinh quang cho Đấng đã sai mình, thì là
người chân thật, và nơi người ấy không có gì là bất chính. 19 Ông Mô-sê đã chẳng ban Lề Luật
cho các ông sao ? Thế mà không một ai trong các ông tuân giữ Lề Luật !
Sao các ông lại tìm cách giết tôi ?" 20 Dân chúng đáp : "Ông bị
quỷ ám rồi ! Có ai tìm giết ông đâu ?" 21 Đức Giê-su trả lời : "Tôi
chỉ làm có một việc, mà tất cả các ông đều ngạc nhiên. 22 Ông Mô-sê đã truyền cho các ông
làm phép cắt bì (thực ra, phép ấy đã có từ thời các
tổ phụ, chứ không phải từ thời ông Mô-sê), và các ông làm phép cắt bì cả
trong ngày sa-bát. 23 Vậy nếu
người ta làm phép cắt bì cả trong ngày sa-bát để khỏi lỗi Luật Mô-sê, thì sao
các ông lại nổi giận với tôi, vì tôi đã chữa lành toàn thân một người trong
ngày sa-bát ? 24 Các ông
đừng xét đoán theo bề ngoài nữa, nhưng hãy xét đoán cho công minh."
25 Bấy giờ có những người ở
Giê-ru-sa-lem nói : "Ông này không phải là người họ đang tìm giết đó sao ?
26 Kìa, ông
ta ăn nói công khai mà họ chẳng bảo gì cả. Phải chăng các nhà hữu trách đã thực
sự nhìn nhận ông là Đấng Ki-tô ? 27 Ông ấy, chúng ta biết ông xuất
thân từ đâu rồi ; còn Đấng Ki-tô, khi Người đến thì chẳng ai biết Người xuất
thân từ đâu cả." 28 Lúc giảng
dạy trong Đền Thờ, Đức Giê-su nói lớn tiếng rằng : "Các ông biết tôi ư ?
Các ông biết tôi xuất thân từ đâu ư ? Tôi đâu có tự mình mà đến. Đấng đã sai
tôi là Đấng chân thật. Các ông, các ông không biết Người. 29 Phần tôi, tôi biết Người, bởi
vì tôi từ nơi Người mà đến, và chính Người đã sai tôi."
30 Bấy giờ họ tìm cách bắt Người,
nhưng chẳng có ai tra tay bắt, vì giờ của Người chưa đến.
31 Trong dân chúng, có nhiều kẻ đã
tin vào Người, họ nói : "Khi Đấng Ki-tô đến, liệu Người có làm nhiều dấu
lạ hơn ông này chăng ?" 32 Người Pha-ri-sêu nghe dân chúng bàn tán với
nhau về Người như thế, nên họ và các thượng tế sai vệ binh đi bắt Người. 33 Vậy, Đức Giê-su bảo họ :
"Tôi còn ở với các ông ít lâu nữa thôi, rồi tôi đi đến cùng Đấng đã sai
tôi. 34 Các ông sẽ
tìm tôi mà không gặp, và nơi tôi ở, các ông không thể đến được." 35 Người Do-thái liền nói với nhau
: "Ông ấy sắp đi đâu mà chúng ta không gặp được ? Phải chăng ông sắp đi
gặp kiều bào sống giữa người Hy-lạp, để giảng dạy cho người Hy-lạp ? 36 Ông ấy muốn nói gì khi bảo :
'Các ông sẽ tìm tôi mà không gặp, và nơi tôi ở, các ông không thể đến được.'
?"
37 Hôm ấy là ngày bế mạc tuần lễ
Lều, và là ngày long trọng nhất. 38 Đức Giê-su đứng trong Đền Thờ
và lớn tiếng nói rằng : "Ai khát, hãy đến với tôi, ai tin vào tôi, hãy đến
mà uống ! Như Kinh Thánh đã nói : Từ lòng Người, sẽ tuôn chảy những dòng nước
hằng sống." 39 Đức Giê-su
muốn nói về Thần Khí mà những kẻ tin vào Người sẽ lãnh nhận. Thật thế, bấy giờ
họ chưa nhận được Thần Khí, vì Đức Giê-su chưa được tôn vinh. 40 Trong dân chúng, có những người
nghe các lời ấy thì nói : "Ông này thật là vị ngôn sứ." 41 Kẻ khác rằng : "Ông này là
Đấng Ki-tô." Nhưng có kẻ lại nói : "Đấng Ki-tô mà lại xuất thân từ
Ga-li-lê sao ? 42 Nào Kinh
Thánh đã chẳng nói : Đấng Ki-tô xuất thân từ dòng dõi vua Đa-vít và từ Bê-lem,
làng của vua Đa-vít sao ?" 43 Vậy, vì Người mà dân chúng đâm ra chia rẽ. 44 Một số trong bọn họ muốn bắt
Người, nhưng chẳng có ai tra tay bắt.
45 Các vệ binh trở về với các
thượng tế và người Pha-ri-sêu. Họ liền hỏi chúng : "Tại sao các anh không
điệu ông ấy về đây ?" 46 Các vệ binh trả lời : "Xưa nay chưa hề đã
có ai nói năng như người ấy !" 47 Người Pha-ri-sêu liền nói với
chúng : "Cả các anh nữa, các anh cũng bị mê hoặc rồi sao ? 48 Trong hàng thủ lãnh hay trong
giới Pha-ri-sêu, đã có một ai tin vào tên ấy đâu ? 49 Còn bọn dân đen này, thứ người
không biết Lề Luật, đúng là quân bị nguyền rủa !" 50 Trong nhóm Pha-ri-sêu, có một
người tên là Ni-cô-đê-mô, trước đây đã đến gặp Đức Giê-su ; ông nói với họ : 51 "Lề Luật của chúng ta có
cho phép kết án ai, trước khi nghe người ấy và biết người ấy làm gì không
?" 52 Họ đáp :
"Cả ông nữa, ông cũng là người Ga-li-lê sao ? Ông cứ nghiên cứu, rồi sẽ
thấy : không một ngôn sứ nào xuất thân từ Ga-li-lê cả."
53 Sau đó, ai nấy trở về nhà mình.
8,1 Còn Đức Giê-su thì đến núi
Ô-liu. 2 Vừa tảng
sáng, Người trở lại Đền Thờ. Toàn dân đến với Người. Người ngồi xuống giảng dạy
họ. 3 Lúc đó,
các kinh sư và người Pha-ri-sêu dẫn đến trước mặt Đức Giê-su một phụ nữ bị bắt
gặp đang ngoại tình. Họ để chị ta đứng ở giữa, 4 rồi nói với Người : "Thưa
Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. 5 Trong sách Luật, ông Mô-sê
truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao
?" 6 Họ nói thế
nhằm thử Người, để có bằng cớ tố cáo Người. Nhưng Đức Giê-su cúi xuống lấy ngón
tay viết trên đất. 7 Vì họ cứ
hỏi mãi, nên Người ngẩng lên và bảo họ : "Ai trong các ông sạch tội, thì
cứ việc lấy đá mà ném trước đi." 8 Rồi Người lại cúi xuống viết
trên đất. 9 Nghe vậy,
họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi. Chỉ còn lại
một mình Đức Giê-su, và người phụ nữ thì đứng ở giữa. 10 Người ngẩng lên và nói :
"Này chị, họ đâu cả rồi ? Không ai lên án chị sao ?" 11 Người đàn bà đáp : "Thưa
ông, không có ai cả." Đức Giê-su nói : "Tôi cũng vậy, tôi không lên
án chị đâu ! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa !"
12 Đức Giê-su lại nói với người
Do-thái : "Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong
bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống."
13 Người Pha-ri-sêu nói với Đức
Giê-su : "Ông làm chứng cho chính mình ; lời chứng của ông không thật
!" 14 Người trả
lời : "Tôi có làm chứng cho chính mình đi nữa, thì lời chứng của tôi vẫn
là chứng thật, bởi vì tôi biết tôi từ đâu tới và đi đâu. Còn các ông, các ông
không biết tôi từ đâu tới và đi đâu. 15 Các ông xét đoán theo kiểu
người phàm ; phần tôi, tôi không xét đoán ai cả. 16 Mà nếu tôi có xét đoán, thì sự
xét đoán của tôi vẫn đúng sự thật, vì không phải chỉ có mình tôi, nhưng có tôi
và Đấng đã sai tôi. 17 Trong Lề
Luật của các ông, có chép rằng lời chứng của hai người là chứng thật. 18 Tôi làm chứng cho chính mình,
và Chúa Cha là Đấng đã sai tôi cũng làm chứng cho tôi." 19 Họ liền hỏi Người : "Cha
ông ở đâu ?" Đức Giê-su đáp : "Các ông không biết tôi, cũng chẳng
biết Cha tôi. Nếu các ông biết tôi, thì hẳn cũng biết Cha tôi."
20 Người đã nói những lời ấy, khi
giảng dạy trong Đền Thờ, tại nơi đặt thùng tiền dâng cúng. Không có ai bắt
Người, vì giờ của Người chưa đến. 21 Đức Giê-su lại nói với họ :
"Tôi ra đi, các ông sẽ tìm tôi, và các ông sẽ mang tội mình mà chết. Nơi
tôi đi, các ông không thể đến được." 22 Người Do-thái mới nói :
"Ông ấy sẽ tự tử hay sao mà lại nói : ' Nơi tôi đi, các ông không thể đến
được ' ?" 23 Người bảo
họ : "Các ông bởi hạ giới ; còn tôi, tôi bởi thượng giới. Các ông thuộc về
thế gian này ; còn tôi, tôi không thuộc về thế gian này. 24 Tôi đã nói với các ông là các
ông sẽ mang tội lỗi mình mà chết. Thật vậy, nếu các ông không tin là Tôi Hằng
Hữu, các ông sẽ mang tội lỗi mình mà chết." 25 Họ liền hỏi Người : "Ông
là ai ?" Đức Giê-su đáp : "Hoàn toàn đúng như tôi vừa nói với các ông
đó. 26 Tôi còn có
nhiều điều phải nói và xét đoán về các ông. Nhưng Đấng đã sai tôi là Đấng chân
thật ; còn tôi, tôi nói lại cho thế gian những điều tôi đã nghe Người
nói." 27 Họ không
hiểu là Đức Giê-su nói với họ về Chúa Cha. 28 Người bảo họ : "Khi các ông
giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu, và biết tôi
không tự mình làm bất cứ điều gì, nhưng Chúa Cha đã dạy tôi thế nào, thì tôi
nói như vậy. 29 Đấng đã
sai tôi vẫn ở với tôi ; Người không để tôi cô độc, vì tôi hằng làm những điều
đẹp ý Người." 30 Khi Đức
Giê-su nói thế, thì có nhiều kẻ tin vào Người.
31 Vậy, Đức Giê-su nói với những
người Do-thái đã tin Người : "Nếu các ông ở lại trong lời của tôi, thì các
ông thật là môn đệ tôi ; 32 các ông sẽ
biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng các ông." 33 Họ đáp : "Chúng tôi là
dòng dõi ông Áp-ra-ham. Chúng tôi không hề làm nô lệ cho ai bao giờ. Làm sao
ông lại nói : các ông sẽ được tự do ?" 34 Đức Giê-su trả lời :
"Thật, tôi bảo thật các ông : hễ ai phạm tội thì làm nô lệ cho tội. 35 Mà kẻ nô lệ thì không được ở
trong nhà luôn mãi, người con mới được ở luôn mãi. 36 Vậy, nếu người Con có giải
phóng các ông, thì các ông mới thực sự là những người tự do. 37 Tôi biết các ông là dòng dõi
ông Áp-ra-ham, nhưng các ông tìm cách giết tôi, vì lời tôi không thấm vào lòng
các ông. 38 Phần tôi,
tôi nói những điều đã thấy nơi Cha tôi ; còn các ông, các ông làm những gì đã
nghe cha các ông nói." 39 Họ đáp : "Cha chúng tôi là ông
Áp-ra-ham." Đức Giê-su nói : "Giả như các ông là con cái ông
Áp-ra-ham, hẳn các ông phải làm những việc ông Áp-ra-ham đã làm. 40 Thế mà bây giờ các ông lại tìm
giết tôi, là người đã nói cho các ông sự thật mà tôi đã nghe biết từ Thiên
Chúa. Điều đó, ông Áp-ra-ham đã không làm. 41 Còn các ông, các ông làm những
việc cha các ông làm."
Họ mới nói : "Chúng tôi đâu phải là con hoang. Chúng tôi chỉ có
một Cha : đó là Thiên Chúa !" 42 Đức Giê-su bảo họ : "Giả
như Thiên Chúa là Cha các ông, hẳn các ông phải yêu mến tôi, vì tôi phát xuất
từ Thiên Chúa và bởi Thiên Chúa mà đến. Thật thế, tôi không tự mình mà đến,
nhưng chính Người đã sai tôi. 43 Tại sao các ông không hiểu lối nói của tôi ?
Là vì các ông không thể nghe lời tôi nói. 44 Cha các ông là ma quỷ, và các
ông muốn làm những gì cha các ông ham thích. Ngay từ đầu, nó đã là tên sát nhân.
Nó đã không đứng về phía sự thật, vì sự thật không ở trong nó. Khi nó nói dối
là nó nói theo bản tính của nó, bởi vì nó là kẻ nói dối, và là cha sự gian dối.
45 Còn tôi,
chính vì tôi nói sự thật, nên các ông không tin tôi. 46 Ai trong các ông chứng minh
được là tôi có tội ? Nếu tôi nói sự thật, sao các ông lại không tin tôi ? 47 Ai thuộc về Thiên Chúa, thì
nghe lời Thiên Chúa nói ; còn các ông, các ông không chịu nghe, vì các ông
không thuộc về Thiên Chúa."
48 Người Do-thái đáp : "Chúng
tôi bảo ông là người Sa-ma-ri và là người bị quỷ ám thì chẳng đúng lắm sao
?" 49 Đức Giê-su
trả lời : "Tôi không bị quỷ ám. Nhưng tôi tôn kính Cha tôi ; còn các ông,
các ông lại làm nhục tôi. 50 Phần tôi,
tôi không tìm vinh quang cho mình. Có Đấng tìm cho tôi và xét xử cho tôi. 51 Thật, tôi bảo thật các ông : ai
tuân giữ lời tôi, thì sẽ không bao giờ phải chết."
52 Người Do-thái liền nói :
"Bây giờ, chúng tôi biết chắc là ông bị quỷ ám. Ông Áp-ra-ham đã chết, các
ngôn sứ cũng vậy ; thế mà ông lại nói : "Ai tuân giữ lời tôi, thì sẽ không
bao giờ phải chết.'
53 Chẳng lẽ ông lại cao trọng hơn
cha chúng tôi là ông Áp-ra-ham sao ? Người đã chết, các ngôn sứ cũng đã chết.
Ông tự coi mình là ai ?" 54 Đức Giê-su đáp : "Nếu tôi tôn vinh chính
mình, vinh quang của tôi chẳng là gì cả. Đấng tôn vinh tôi chính là Cha tôi,
Đấng mà các ông gọi là Thiên Chúa của các ông. 55 Các ông không biết Người ; còn
tôi, tôi biết Người. Nếu tôi nói là tôi không biết Người, thì tôi cũng là kẻ
nói dối như các ông. Nhưng tôi biết Người và giữ lời Người. 56 Ông Áp-ra-ham là cha các ông đã
hớn hở vui mừng vì hy vọng được thấy ngày của tôi. Ông đã thấy và đã mừng
rỡ."
57 Người Do-thái nói : "Ông
chưa được năm mươi tuổi mà đã thấy ông Áp-ra-ham !" 58 Đức Giê-su đáp : "Thật,
tôi bảo thật các ông : trước khi có ông Áp-ra-ham, thì tôi, Tôi Hằng Hữu
!"
59 Họ liền lượm đá để ném Người.
Nhưng Đức Giê-su lánh đi và ra khỏi Đền Thờ.
9,1 Đi ngang qua, Đức Giê-su nhìn
thấy một người mù từ thuở mới sinh. 2 Các môn đệ hỏi Người :
"Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay
cha mẹ anh ta ?" 3 Đức Giê-su
trả lời : "Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội.
Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ
hiện nơi anh. 4 Chúng ta
phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy, khi trời còn sáng ; đêm đến,
không ai có thể làm việc được. 5 Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng
thế gian."
6 Nói xong, Đức Giê-su nhổ nước
miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, 7 rồi bảo anh ta : "Anh hãy
đến hồ Si-lô-ác mà rửa" (Si-lô-ác có nghĩa là
:người được sai phái). Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy
được.
8 Các người láng giềng và những
kẻ trước kia thường thấy anh ta ăn xin mới nói : "Hắn không phải là người
vẫn ngồi ăn xin đó sao ?" 9 Có người nói : "Chính hắn đó !" Kẻ
khác lại rằng : "Không phải đâu ! Nhưng là một đứa nào giống hắn đó thôi
!" Còn anh ta thì quả quyết : "Chính tôi đây !" 10 Người ta liền hỏi anh :
"Vậy, làm sao mắt anh lại mở ra được như thế ?" 11 Anh ta trả lời : "Người
tên là Giê-su đã trộn một chút bùn, xức vào mắt tôi, rồi bảo : 'Anh hãy đến hồ
Si-lô-ác mà rửa.' Tôi đã đi, đã rửa và tôi nhìn thấy." 12 Họ lại hỏi anh : "Ông ấy ở
đâu ?" Anh ta đáp : "Tôi không biết."
13 Họ dẫn kẻ trước đây bị mù đến
với những người Pha-ri-sêu. 14 Nhưng ngày Đức Giê-su trộn chút bùn và làm cho
mắt anh ta mở ra lại là ngày sa-bát. 15 Vậy, các người Pha-ri-sêu hỏi
thêm một lần nữa làm sao anh nhìn thấy được. Anh trả lời : "Ông ấy lấy bùn
thoa vào mắt tôi, tôi rửa và tôi nhìn thấy." 16 Trong nhóm Pha-ri-sêu, người
thì nói : "Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ
ngày sa-bát" ; kẻ thì bảo : "Một người tội lỗi sao có thể làm được
những dấu lạ như vậy ?" Thế là họ đâm ra chia rẽ. 17 Họ lại hỏi người mù : "Còn
anh, anh nghĩ gì về người đã mở mắt cho anh ?" Anh đáp : "Người là
một vị ngôn sứ !"
18 Người Do-thái không tin là
trước đây anh bị mù mà nay nhìn thấy được, nên đã gọi cha mẹ anh ta đến. 19 Họ hỏi : "Anh này có phải
là con ông bà không ? Ông bà nói là anh bị mù từ khi mới sinh, vậy sao bây giờ
anh lại nhìn thấy được ?" 20 Cha mẹ anh đáp : "Chúng tôi biết nó là
con chúng tôi, nó bị mù từ khi mới sinh. 21 Còn bây giờ làm sao nó thấy
được, chúng tôi không biết, hoặc có ai đã mở mắt cho nó, chúng tôi cũng chẳng
hay. Xin các ông cứ hỏi nó ; nó đã khôn lớn rồi, nó có thể tự khai được." 22 Cha mẹ anh nói thế vì sợ người
Do-thái. Thật vậy, người Do-thái đã đồng lòng trục xuất khỏi hội đường kẻ nào
dám tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô. 23 Vì thế, cha mẹ anh mới nói :
"Nó đã khôn lớn rồi, xin các ông cứ hỏi nó."
24 Một lần nữa, họ gọi người trước
đây bị mù đến và bảo : "Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa. Chúng ta đây, chúng
ta biết ông ấy là người tội lỗi." 25 Anh ta đáp : "Ông ấy có
phải là người tội lỗi hay không, tôi không biết. Tôi chỉ biết một điều : trước
đây tôi bị mù mà nay tôi nhìn thấy được !" 26 Họ mới nói với anh : "Ông
ấy đã làm gì cho anh ? Ông ấy đã mở mắt cho anh thế nào ?" 27 Anh trả lời : "Tôi đã nói
với các ông rồi mà các ông vẫn không chịu nghe. Tại sao các ông còn muốn nghe
lại chuyện đó nữa ? Hay các ông cũng muốn làm môn đệ ông ấy chăng ?" 28 Họ liền mắng nhiếc anh :
"Có mày mới là môn đệ của ông ấy ; còn chúng ta, chúng ta là môn đệ của
ông Mô-sê. 29 Chúng ta
biết rằng Thiên Chúa đã nói với ông Mô-sê ; nhưng chúng ta không biết ông
Giê-su ấy bởi đâu mà đến." 30 Anh đáp : "Kể cũng lạ thật ! Các ông
không biết ông ấy bởi đâu mà đến, thế mà ông ấy lại là người đã mở mắt tôi ! 31 Chúng ta biết : Thiên Chúa
không nhậm lời những kẻ tội lỗi ; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của
Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy. 32 Xưa nay chưa hề nghe nói có ai
đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. 33 Nếu không phải là người bởi
Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì." 34 Họ đối lại : "Mày sinh ra
tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư ?" Rồi họ trục
xuất anh.
35 Đức Giê-su nghe nói họ đã trục
xuất anh. Khi gặp lại anh, Người hỏi : "Anh có tin vào Con Người không
?" 36 Anh đáp :
"Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin ?" 37 Đức Giê-su trả lời : "Anh
đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây." 38 Anh nói : "Thưa Ngài, tôi
tin." Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người.
39 Đức Giê-su nói : "Tôi đến
thế gian này chính là để xét xử : cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem
thấy lại nên đui mù !"
40 Những người Pha-ri-sêu đang ở
đó với Đức Giê-su nghe vậy, liền lên tiếng : "Thế ra cả chúng tôi cũng đui
mù hay sao ?" 41 Đức Giê-su
bảo họ : "Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây
các ông nói rằng : ' Chúng tôi thấy ', nên tội các ông vẫn còn !"
10,1 "Thật, tôi bảo thật các
ông : Ai không đi qua cửa mà vào ràn chiên, nhưng trèo qua lối khác mà vào,
người ấy là kẻ trộm, kẻ cướp. 2 Còn ai đi qua cửa mà vào, người ấy là mục tử. 3 Người giữ cửa mở cho anh ta
vào, và chiên nghe tiếng của anh ; anh gọi tên từng con, rồi dẫn chúng ra. 4 Khi đã cho chiên ra hết, anh ta
đi trước và chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh. 5 Chúng sẽ không theo người lạ,
nhưng sẽ chạy trốn, vì chúng không nhận biết tiếng người lạ." 6 Đức Giê-su kể cho họ nghe dụ
ngôn đó. Nhưng họ không hiểu những điều Người nói với họ.
7 Vậy, Đức Giê-su lại nói :
"Thật, tôi bảo thật các ông : Tôi là cửa cho chiên ra vào. 8 Mọi kẻ đến trước tôi đều là
trộm cướp ; nhưng chiên đã không nghe họ. 9 Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào
thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ. 10 Kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm,
giết hại và phá huỷ. Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào.
11 Tôi chính là Mục Tử nhân lành.
Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. 12 Người làm thuê, vì không phải
là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên
mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn, 13 vì anh ta là kẻ làm thuê, và
không thiết gì đến chiên. 14 Tôi chính
là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi, 15 như Chúa Cha biết tôi, và tôi
biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.
16 Tôi còn có những chiên khác
không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và sẽ
chỉ có một đoàn chiên và một mục tử. 17 Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi, là
vì tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại. 18 Mạng sống của tôi, không ai lấy
đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và
có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận
được."
19 Người Do-thái lại chia rẽ nhau
vì những lời đó. 20 Nhiều
người trong nhóm họ nói : "Ông ấy bị quỷ ám và điên khùng rồi ! Nghe ông
ấy làm gì ?" 21 Kẻ khác bảo
: "Người bị quỷ ám đâu có nói được như vậy ! Quỷ có thể mở mắt cho người
mù được sao ?"
22 Khi ấy, ở Giê-ru-sa-lem, người
ta đang mừng lễ Cung Hiến Đền Thờ. Bấy giờ là mùa đông. 23 Đức Giê-su đi đi lại lại trong
Đền Thờ, tại hành lang Sa-lô-môn. 24 Người Do-thái vây quanh Đức
Giê-su và nói : "Ông còn để lòng trí chúng tôi phải thắc mắc cho đến bao
giờ ? Nếu ông là Đấng Ki-tô, thì xin nói công khai cho chúng tôi biết." 25 Đức Giê-su đáp : "Tôi đã
nói với các ông rồi mà các ông không tin. Những việc tôi làm nhân danh Cha tôi,
những việc đó làm chứng cho tôi. 26 Nhưng các ông không tin, vì các
ông không thuộc về đoàn chiên của tôi. 27 Chiên của tôi thì nghe tiếng
tôi ; tôi biết chúng và chúng theo tôi. 28 Tôi ban cho chúng sự sống đời
đời ; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay
tôi. 29 Cha tôi,
Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi
tay Chúa Cha. 30 Tôi và
Chúa Cha là một."
31 Người Do-thái lại lấy đá để ném
Đức Giê-su. 32 Người bảo
họ : "Tôi đã cho các ông thấy nhiều việc tốt đẹp Chúa Cha đã giao cho tôi
làm ; vì việc nào mà các ông ném đá tôi ?" 33 Người Do-thái đáp : "Chúng
tôi ném đá ông, không phải vì một việc tốt đẹp, nhưng vì một lời nói phạm
thượng : ông là người phàm mà lại tự cho mình là Thiên Chúa." 34 Đức Giê-su bảo họ : "Trong
Lề Luật các ông, đã chẳng có chép lời này sao : "Ta đã phán : các ngươi là
những bậc thần thánh'" ? 35 Nếu Lề Luật gọi những kẻ được Thiên Chúa ngỏ
lời là những bậc thần thánh, mà lời Kinh Thánh không thể bị huỷ bỏ, 36 thì tôi là người Chúa Cha đã
thánh hiến và sai đến thế gian, làm sao các ông lại bảo tôi : 'Ông nói phạm
thượng !' vì tôi đã nói : ' Tôi là Con Thiên Chúa ' ? 37 Nếu tôi không làm các việc của
Cha tôi, thì các ông đừng tin tôi. 38 Còn nếu tôi làm các việc đó,
thì dù các ông không tin tôi, ít ra cũng hãy tin các việc đó. Như vậy, các ông
sẽ biết và ngày càng biết thêm rằng : Chúa Cha ở trong tôi và tôi ở trong Chúa
Cha." 39 Bấy giờ họ
lại tìm cách bắt Người, nhưng Người đã thoát khỏi tay họ.
40 Đức Giê-su lại ra đi, sang bên
kia sông Gio-đan, đến chỗ trước kia ông Gio-an đã làm phép rửa, và Người ở lại
đó. 41 Nhiều
người đến gặp Đức Giê-su. Họ bảo nhau : "Ông Gio-an đã không làm một dấu
lạ nào cả, nhưng mọi điều ông ấy nói về người này đều đúng." 42 Ở đó, nhiều người đã tin vào
Đức Giê-su.
11,1 Có một người bị đau nặng, tên
là La-da-rô, quê ở Bê-ta-ni-a, làng của hai chị em cô Mác-ta và Ma-ri-a. 2 Cô Ma-ri-a là người sau này sẽ
xức dầu thơm cho Chúa, và lấy tóc lau chân Người. Anh La-da-rô, người bị đau
nặng, là em của cô. 3 Hai cô cho
người đến nói với Đức Giê-su : "Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang bị
đau nặng." 4 Nghe vậy,
Đức Giê-su bảo : "Bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ
vinh quang của Thiên Chúa : qua cơn bệnh này, Con Thiên Chúa được tôn
vinh."
5 Đức Giê-su quý mến cô Mác-ta,
cùng hai người em là cô Ma-ri-a và anh La-da-rô.
6 Tuy nhiên, sau khi được tin anh
La-da-rô lâm bệnh, Người còn lưu lại thêm hai ngày tại nơi đang ở. 7 Rồi sau đó, Người nói với các môn
đệ : "Nào chúng ta cùng trở lại miền Giu-đê !" 8 Các môn đệ nói : "Thưa
Thầy, mới đây người Do-thái tìm cách ném đá Thầy, mà Thầy lại còn đến đó sao
?" 9 Đức Giê-su
trả lời : "Ban ngày chẳng có mười hai giờ đó sao ? Ai đi ban ngày thì
không vấp ngã, vì thấy ánh sáng mặt trời. 10 Còn ai đi ban đêm, thì vấp ngã
vì không có ánh sáng nơi mình !"
11 Nói những lời này xong, Người
bảo họ : "La-da-rô, bạn của chúng ta, đang yên giấc ; tuy vậy, Thầy đi
đánh thức anh ấy đây." 12 Các môn đệ nói với Người : "Thưa Thầy,
nếu anh ấy yên giấc được, anh ấy sẽ khoẻ lại." 13 Đức Giê-su nói về cái chết của
anh La-da-rô, còn họ tưởng Người nói về giấc ngủ thường. 14 Bấy giờ Người mới nói rõ :
"La-da-rô đã chết. 15 Thầy mừng
cho anh em, vì Thầy đã không có mặt ở đó, để anh em tin. Thôi, nào chúng ta đến
với anh ấy." 16 Ông Tô-ma,
gọi là Đi-đy-mô, nói với các bạn đồng môn : "Cả chúng ta nữa, chúng ta
cũng đi để cùng chết với Thầy !"
17 Khi đến nơi, Đức Giê-su thấy
anh La-da-rô đã chôn trong mồ được bốn ngày rồi. 18 Bê-ta-ni-a cách Giê-ru-sa-lem
không đầy ba cây số. 19 Nhiều
người Do-thái đến chia buồn với hai cô Mác-ta và Ma-ri-a, vì em các cô mới qua
đời. 20 Vừa được
tin Đức Giê-su đến, cô Mác-ta liền ra đón Người. Còn cô Ma-ri-a thì ngồi ở nhà.
21 Cô Mác-ta
nói với Đức Giê-su : "Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết. 22 Nhưng bây giờ con biết : Bất cứ
điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người cũng sẽ ban cho Thầy." 23 Đức Giê-su nói : "Em chị
sẽ sống lại !" 24 Cô Mác-ta
thưa : "Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sống lại trong ngày sau
hết." 25 Đức Giê-su
liền phán : "Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì
dù đã chết, cũng sẽ được sống. 26 Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải
chết. Chị có tin thế không ?" 27 Cô Mác-ta đáp : "Thưa
Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế
gian."
28 Nói xong, cô đi gọi em là
Ma-ri-a, và nói nhỏ : "Thầy đến rồi, Thầy gọi em đấy !" 29 Nghe vậy, cô Ma-ri-a vội đứng
lên và đến với Đức Giê-su. 30 Lúc đó, Người chưa vào làng, nhưng vẫn còn ở
chỗ cô Mác-ta đã ra đón Người. 31 Những người Do-thái đang ở trong nhà với cô
Ma-ri-a để chia buồn, thấy cô vội vã đứng dậy đi ra, liền đi theo, tưởng rằng
cô ra mộ khóc em.
32 Khi đến gần Đức Giê-su, cô
Ma-ri-a vừa thấy Người, liền phủ phục dưới chân và nói : "Thưa Thầy, nếu
có Thầy ở đây, em con đã không chết." 33 Thấy cô khóc, và những người
Do-thái đi với cô cũng khóc, Đức Giê-su thổn thức trong lòng và xao xuyến. 34 Người hỏi : "Các người để
xác anh ấy ở đâu ?" Họ trả lời : "Thưa Thầy, mời Thầy đến mà
xem." 35 Đức Giê-su
liền khóc. 36 Người
Do-thái mới nói : "Kìa xem ! Ông ta thương anh La-da-rô biết mấy !" 37 Có vài người trong nhóm họ nói
: "Ông ta đã mở mắt cho người mù, lại không thể làm cho anh ấy khỏi chết ư
?" 38 Đức Giê-su
lại thổn thức trong lòng. Người đi tới mộ. Ngôi mộ đó là một cái hang có phiến
đá đậy lại. 39 Đức Giê-su
nói : "Đem phiến đá này đi." Cô Mác-ta là chị người chết liền nói :
"Thưa Thầy, nặng mùi rồi, vì em con ở trong mồ đã được bốn ngày." 40 Đức Giê-su bảo : "Nào Thầy
đã chẳng nói với chị rằng nếu chị tin, chị sẽ được thấy vinh quang của Thiên
Chúa sao ?" 41 Rồi người
ta đem phiến đá đi. Đức Giê-su ngước mắt lên và nói : "Lạy Cha, con cảm tạ
Cha, vì Cha đã nhậm lời con. 42 Phần con, con biết Cha hằng nhậm lời con,
nhưng vì dân chúng đứng quanh đây, nên con đã nói để họ tin là Cha đã sai
con." 43 Nói xong,
Người kêu lớn tiếng : "Anh La-da-rô, hãy ra khỏi mồ !" 44 Người chết liền ra, chân tay
còn quấn vải, và mặt còn phủ khăn. Đức Giê-su bảo : "Cởi khăn và vải cho
anh ấy, rồi để anh ấy đi."
45 Trong số những người Do-thái
đến thăm cô Ma-ri-a và được chứng kiến việc Đức Giê-su làm, có nhiều kẻ đã tin
vào Người. 46 Nhưng lại
có những người đi gặp nhóm Pha-ri-sêu và kể cho họ những gì Đức Giê-su đã làm. 47 Vậy các thượng tế và các người
Pha-ri-sêu triệu tập Thượng Hội Đồng và nói : "Chúng ta phải làm gì đây ?
Người này làm nhiều dấu lạ. 48 Nếu chúng ta cứ để ông ấy tiếp tục, mọi người
sẽ tin vào ông ấy, rồi người Rô-ma sẽ đến phá huỷ cả nơi thánh của ta lẫn dân tộc
ta." 49 Một người
trong Thượng Hội Đồng tên là Cai-pha, làm thượng tế năm ấy, nói rằng :
"Các ông không hiểu gì cả, 50 các ông cũng chẳng nghĩ đến điều lợi cho các
ông là : thà một người chết thay cho dân còn hơn là toàn dân bị tiêu
diệt." 51 Điều đó, ông
không tự mình nói ra, nhưng vì ông là thượng tế năm ấy, nên đã nói tiên tri là
Đức Giê-su sắp phải chết thay cho dân, 52 và không chỉ thay cho dân mà
thôi, nhưng còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối. 53 Từ ngày đó, họ quyết định giết
Đức Giê-su. 54 Vậy Đức
Giê-su không đi lại công khai giữa người Do-thái nữa ; nhưng từ nơi ấy, Người
đến một vùng gần hoang địa, tới một thành gọi là Ép-ra-im. Người ở lại đó với
các môn đệ.
55 Khi ấy sắp đến lễ Vượt Qua của
người Do-thái. Từ miền quê, nhiều người lên Giê-ru-sa-lem để cử hành các nghi
thức thanh tẩy dọn mình mừng lễ. 56 Họ tìm Đức Giê-su và đứng trong
Đền Thờ bàn tán với nhau : "Có thể ông ấy sẽ không lên dự lễ, các ông có
nghĩ thế không ?" 57 Còn các
thượng tế và người Pha-ri-sêu thì ra lệnh : ai biết được ông ấy ở đâu thì phải
báo cho họ đến bắt.
12,1 Sáu ngày trước lễ Vượt Qua, Đức
Giê-su đến làng Bê-ta-ni-a, nơi anh La-da-rô ở. Anh này đã được Người cho sống
lại từ cõi chết. 2 Ở đó,
người ta dọn bữa ăn tối thết đãi Đức Giê-su ; cô Mác-ta lo hầu bàn, còn anh
La-da-rô là một trong những kẻ cùng dự tiệc với Người. 3 Cô Ma-ri-a lấy một cân dầu thơm
cam tùng nguyên chất và quý giá xức chân Đức Giê-su, rồi lấy tóc mà lau. Cả nhà
sực mùi thơm. 4 Một trong
các môn đệ của Đức Giê-su là Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, kẻ sẽ nộp Người, liền nói : 5 "Sao lại không bán dầu
thơm đó lấy ba trăm quan tiền mà cho người nghèo ?" 6 Y nói thế, không phải vì lo cho
người nghèo, nhưng vì y là một tên ăn cắp : y giữ túi tiền và thường lấy cho
mình những gì người ta bỏ vào quỹ chung. 7 Đức Giê-su nói : "Hãy để
cô ấy yên. Cô đã giữ dầu thơm này là có ý dành cho ngày mai táng Thầy. 8 Thật vậy, người nghèo thì bên
cạnh anh em lúc nào cũng có ; còn Thầy, anh em không có mãi đâu."
9 Một đám đông người Do-thái biết
Đức Giê-su đang ở đó. Họ tuôn đến, không phải chỉ vì Đức Giê-su, nhưng còn để
nhìn thấy anh La-da-rô, kẻ đã được Người cho sống lại từ cõi chết. 10 Các thượng tế mới quyết định
giết cả anh La-da-rô nữa, 11 vì tại anh
mà nhiều người Do-thái đã bỏ họ và tin vào Đức Giê-su.
12 Hôm sau, dân chúng lũ lượt tuôn
đến mừng lễ. Thoạt nghe tin Đức Giê-su tới Giê-ru-sa-lem, 13 họ cầm nhành lá thiên tuế ra
đón Người và reo hò : Hoan hô ! Hoan hô ! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa
! Chúc tụng vua Ít-ra-en ! 14 Đức Giê-su gặp một con lừa nhỏ, liền cỡi lên
như có lời chép : 15 Hỡi thiếu
nữ Xi-on, đừng sợ ! Này Đức Vua của ngươi ngự đến, ngồi trên lưng lừa con. 16 Lúc đầu, các môn đệ không hiểu
những điều ấy. Nhưng sau khi Đức Giê-su được tôn vinh, các ông mới nhớ lại là Kinh
Thánh đã chép những điều đó về Người, và dân chúng đã làm cho Người đúng y như
vậy.
17 Vậy, đám đông dân chúng làm
chứng cho Đức Giê-su, họ là những người đã có mặt, khi Đức Giê-su gọi anh
La-da-rô ra khỏi mồ và làm cho anh chỗi dậy từ cõi chết. 18 Sở dĩ dân chúng đi đón Người,
là vì họ nghe biết Người đã làm dấu lạ đó. 19 Bấy giờ người Pha-ri-sêu bảo
nhau : "Các ông thấy chưa : các ông chẳng làm nên trò trống gì cả ! Kìa
thiên hạ theo ông ấy hết !"
20 Trong số những người lên
Giê-ru-sa-lem thờ phượng Thiên Chúa, có mấy người Hy-lạp. 21 Họ đến gặp ông Phi-líp-phê,
người Bết-xai-đa, miền Ga-li-lê, và xin rằng : "Thưa ông, chúng tôi muốn
được gặp ông Giê-su." 22 Ông Phi-líp-phê đi nói với ông An-rê. Ông
An-rê cùng với ông Phi-líp-phê đến thưa với Đức Giê-su. 23 Đức Giê-su trả lời : "Đã
đến giờ Con Người được tôn vinh ! 24 Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu
hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình ; còn
nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. 25 Ai yêu quý mạng sống mình, thì
sẽ mất ; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự
sống đời đời. 26 Ai phục vụ
Thầy, thì hãy theo Thầy ; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục
vụ Thầy, Cha của Thầy sẽ quý trọng người ấy."
27 "Bây giờ, tâm hồn Thầy xao
xuyến ! Thầy biết nói gì đây ? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính
vì giờ này mà con đã đến. 28 Lạy Cha,
xin tôn vinh Danh Cha." Bấy giờ có tiếng từ trời vọng xuống : "Ta đã
tôn vinh Danh Ta, Ta sẽ còn tôn vinh nữa !" 29 Dân chúng đứng ở đó nghe vậy
liền nói : "Đó là tiếng sấm !" Người khác lại bảo : "Tiếng một
thiên thần nói với ông ta đấy !" 30 Đức Giê-su đáp : "Tiếng ấy
đã vọng xuống không phải vì tôi, mà vì các người. 31 Giờ đây đang diễn ra cuộc phán
xét thế gian này. Giờ đây thủ lãnh thế gian này sắp bị tống ra ngoài ! 32 Phần tôi, một khi được giương
cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi." 33 Đức Giê-su nói thế để ám chỉ
Người sẽ phải chết cách nào.
34 Vậy, dân chúng thưa Người :
"Chúng tôi đã học biết trong sách Luật rằng : Đấng Ki-tô phải trường tồn
mãi mãi. Thế sao ông lại nói : ' Con Người phải được giương cao ' ? Con Người
đó là ai ?" 35 Đức Giê-su
bảo họ : "Ánh sáng còn ở giữa các ông ít lâu nữa thôi. Các ông hãy bước
đi, bao lâu các ông còn có ánh sáng, kẻo bóng tối bắt chợt các ông. Ai bước đi
trong bóng tối, thì không biết mình đi đâu. 36 Bao lâu các ông còn có ánh
sáng, hãy tin vào ánh sáng, để trở nên con cái ánh sáng." Nói thế xong,
Đức Giê-su rời nơi đó và lánh đi không cho họ thấy. 37 Người đã làm ngần ấy dấu lạ
trước mặt họ, thế mà họ vẫn không tin vào Người. 38 Như vậy là ứng nghiệm lời ngôn
sứ I-sai-a : Lạy Đức Chúa, ai đã tin lời chúng tôi rao giảng ? Và quyền lực của
Đức Chúa đã được tỏ cho ai ?
39 Sở dĩ họ không thể tin là vì
ngôn sứ I-sai-a còn nói : 40 Thiên Chúa
đã làm cho mắt chúng ra đui mù và lòng chúng ra chai đá, kẻo mắt chúng thấy và
lòng chúng hiểu được mà hoán cải, rồi Ta sẽ chữa chúng cho lành !
41 Ngôn sứ I-sai-a nói những lời
đó, vì đã thấy vinh quang của Đức Giê-su, và ông đã nói về Người.
42 Tuy nhiên, ngay cả trong giới
lãnh đạo Do-thái cũng có nhiều người đã tin vào Đức Giê-su. Nhưng họ không dám
xưng ra, vì sợ bị nhóm Pha-ri-sêu khai trừ khỏi hội đường. 43 Thật thế, họ chuộng vinh quang
của người phàm hơn là vinh quang của Thiên Chúa. 44 Đức Giê-su lớn tiếng nói rằng :
"Ai tin vào tôi, thì không phải là tin vào tôi, nhưng là tin vào Đấng đã
sai tôi ; 45 ai thấy
tôi là thấy Đấng đã sai tôi. 46 Tôi là ánh sáng đến thế gian, để bất cứ ai tin
vào tôi, thì không ở lại trong bóng tối. 47 Ai nghe những lời tôi nói mà
không tuân giữ, thì không phải chính tôi xét xử người ấy, vì tôi đến không phải
để xét xử thế gian, nhưng để cứu thế gian. 48 Ai từ chối tôi và không đón
nhận lời tôi, thì có quan toà xét xử người ấy : chính lời tôi đã nói sẽ xét xử
người ấy trong ngày sau hết. 49 Thật vậy, không phải tôi tự mình nói ra, nhưng
là chính Chúa Cha, Đấng đã sai tôi, truyền lệnh cho tôi phải nói gì, tuyên bố
gì. 50 Và tôi
biết : mệnh lệnh của Người là sự sống đời đời. Vậy, những gì tôi nói, thì tôi
nói đúng như Chúa Cha đã nói với tôi."
13,1 Trước lễ Vượt Qua, Đức Giê-su
biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn
yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến
cùng.
2 Ma quỷ đã gieo vào lòng Giu-đa,
con ông Si-môn Ít-ca-ri-ốt, ý định nộp Đức Giê-su. 3 Đức Giê-su biết rằng : Chúa Cha
đã giao phó mọi sự trong tay Người, Người bởi Thiên Chúa mà đến, và sắp trở về
cùng Thiên Chúa, 4 nên trong
một bữa ăn, Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt
lưng. 5 Rồi Đức
Giê-su đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng
mà lau.
6 Vậy, Người đến chỗ ông Si-môn
Phê-rô, ông liền thưa với Người : "Thưa Thầy ! Thầy mà lại rửa chân cho
con sao ?" 7 Đức Giê-su
trả lời : "Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ
hiểu." 8 Ông Phê-rô
lại thưa : "Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu !"
Đức Giê-su đáp : "Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần
với Thầy." 9 Ông Si-môn
Phê-rô liền thưa : "Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân, mà cả
tay và đầu con nữa." 10 Đức Giê-su
bảo ông : "Ai đã tắm rồi, thì không cần phải rửa nữa ; toàn thân người ấy
đã sạch. Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu !" 11 Thật vậy, Người biết ai sẽ nộp
Người, nên mới nói : "Không phải tất cả anh em đều sạch."
12 Khi rửa chân cho các môn đệ
xong, Đức Giê-su mặc áo vào, về chỗ và nói : "Anh em có hiểu việc Thầy mới
làm cho anh em không ? 13 Anh em gọi
Thầy là ' Thầy ', là ' Chúa ', điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là
Chúa. 14 Vậy, nếu
Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa
chân cho nhau. 15 Thầy đã
nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em. 16 Thật, Thầy bảo thật anh em :
tôi tớ không lớn hơn chủ nhà, kẻ được sai đi không lớn hơn người sai đi. 17 Anh em đã biết những điều đó,
nếu anh em thực hành, thì thật phúc cho anh em ! 18 Thầy không nói về tất cả anh em
đâu. Chính Thầy biết những người Thầy đã chọn, nhưng phải ứng nghiệm lời Kinh
Thánh sau đây : Kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con. 19 Thầy nói với anh em điều đó
ngay từ lúc này, trước khi sự việc xảy ra, để khi sự việc xảy ra, anh em tin là
Thầy Hằng Hữu. 20 Thật, Thầy
bảo thật anh em : ai đón tiếp người Thầy sai đến là đón tiếp Thầy, và ai đón
tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy."
21 Nói xong, Đức Giê-su cảm thấy
tâm thần xao xuyến. Người tuyên bố : "Thật, Thầy bảo thật anh em : có một
người trong anh em sẽ nộp Thầy." 22 Các môn đệ nhìn nhau, phân vân
không biết Người nói về ai. 23 Trong số các môn đệ, có một người được Đức
Giê-su thương mến. Ông đang dùng bữa, đầu tựa vào lòng Đức Giê-su. 24 Ông Si-môn Phê-rô làm hiệu cho
ông ấy và bảo : "Hỏi xem Thầy muốn nói về ai ?" 25 Ông này liền nghiêng mình vào
ngực Đức Giê-su và hỏi : "Thưa Thầy, ai vậy ?" 26 Đức Giê-su trả lời : "Thầy
chấm bánh đưa cho ai, thì chính là kẻ ấy." Rồi Người chấm một miếng bánh,
trao cho Giu-đa, con ông Si-môn Ít-ca-ri-ốt. 27 Y vừa ăn xong miếng bánh,
Xa-tan liền nhập vào y. Đức Giê-su bảo y : "Anh làm gì thì làm mau đi
!" 28 Nhưng
trong số các người đang dùng bữa, không ai hiểu tại sao Người nói với y như
thế. 29 Vì Giu-đa
giữ túi tiền, nên có vài người tưởng rằng Đức Giê-su nói với y : "Hãy mua những
món cần dùng trong dịp lễ", hoặc bảo y bố thí cho người nghèo. 30 Sau khi ăn miếng bánh, Giu-đa
liền đi ra. Lúc đó, trời đã tối.
31 Khi Giu-đa đi rồi, Đức Giê-su
nói : "Giờ đây, Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh
nơi Người. 32 Nếu Thiên
Chúa được tôn vinh nơi Người, thì Thiên Chúa cũng sẽ tôn vinh Người nơi chính
mình, và Thiên Chúa sắp tôn vinh Người.
33 Hỡi anh em là những người con
bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi. Anh em sẽ tìm kiếm
Thầy ; nhưng như Thầy đã nói với người Do-thái : ' Nơi tôi đi, các người không
thể đến được ', bây giờ, Thầy cũng nói với anh em như vậy. 34 Thầy ban cho anh em một điều
răn mới là anh em hãy yêu thương nhau ; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã
yêu thương anh em. 35 Mọi người
sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này : là anh em có lòng yêu
thương nhau."
36 Ông Si-môn Phê-rô nói với Đức
Giê-su : "Thưa Thầy, Thầy đi đâu vậy ?" Đức Giê-su trả lời :
"Nơi Thầy đi, bây giờ anh không thể theo đến được ; nhưng sau này anh sẽ
đi theo." 37 Ông Phê-rô
thưa : "Thưa Thầy, sao con lại không thể đi theo Thầy ngay bây giờ được ?
Con sẽ thí mạng con vì Thầy !" 38 Đức Giê-su đáp : "Anh sẽ
thí mạng vì Thầy ư ? Thật, Thầy bảo thật cho anh biết : gà chưa gáy, anh đã
chối Thầy ba lần.
14,1 Anh em đừng xao xuyến ! Hãy tin
vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. 2 Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở ; nếu
không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. 3 Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em,
thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó. 4 Và Thầy đi đâu, thì anh em biết
đường rồi."
5 Ông Tô-ma nói với Đức Giê-su :
"Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được
đường ?" 6 Đức Giê-su
đáp : "Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với
Chúa Cha mà không qua Thầy. 7 Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha
Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người."
8 Ông Phi-líp-phê nói :
"Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn
nguyện." 9 Đức Giê-su
trả lời : "Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Phi-líp-phê, anh chưa
biết Thầy ư ? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói : ' Xin tỏ cho
chúng con thấy Chúa Cha ' ? 10 Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và
Chúa Cha ở trong Thầy sao ? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói
ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của
mình. 11 Anh em hãy
tin Thầy : Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy ; bằng không thì hãy
tin vì công việc Thầy làm. 12 Thật, Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy,
thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc
lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha. 13 Và bất cứ điều gì anh em nhân
danh Thầy mà xin, thì Thầy sẽ làm, để Chúa Cha được tôn vinh nơi người Con. 14 Nếu anh em nhân danh Thầy mà
xin Thầy điều gì, thì chính Thầy sẽ làm điều đó.
15 Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em
sẽ giữ các điều răn của Thầy. 16 Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh
em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. 17 Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà
thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người.
Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em. 18 Thầy sẽ không để anh em mồ côi.
Thầy đến cùng anh em. 19 Chẳng bao
lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy
Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống. 20 Ngày đó, anh em sẽ biết rằng
Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em. 21 Ai có và giữ các điều răn của
Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của
Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy."
22 Ông Giu-đa, không phải Giu-đa
Ít-ca-ri-ốt, nói với Đức Giê-su : "Thưa Thầy, tại sao Thầy phải tỏ mình ra
cho chúng con, mà không tỏ mình ra cho thế gian ?" 23 Đức Giê-su đáp : "Ai yêu
mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy
sẽ đến và ở lại với người ấy. 24 Ai không yêu mến Thầy, thì không giữ lời Thầy.
Và lời anh em nghe đây không phải là của Thầy, nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã
sai Thầy. 25 Các điều
đó, Thầy đã nói với anh em, đang khi còn ở với anh em. 26 Nhưng Đấng Bảo Trợ là Thánh
Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ
làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em.
27 Thầy để lại bình an cho anh em,
Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế
gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi. 28 Anh em đã nghe Thầy bảo : '
Thầy ra đi và đến cùng anh em '. Nếu anh em yêu mến Thầy, thì hẳn anh em đã vui
mừng vì Thầy đi về cùng Chúa Cha, bởi vì Chúa Cha cao trọng hơn Thầy. 29 Bây giờ, Thầy nói với anh em
trước khi sự việc xảy ra, để khi xảy ra, anh em tin.
30 Thầy sẽ không còn nói nhiều với
anh em nữa, bởi vì Thủ lãnh thế gian đang đến. Đã hẳn, nó không làm gì được
Thầy. 31 Nhưng
chuyện đó xảy ra là để cho thế gian biết rằng Thầy yêu mến Chúa Cha và làm đúng
như Chúa Cha đã truyền cho Thầy. Nào đứng dậy ! Ta đi khỏi đây !" 15,1 "Thầy là cây nho thật, và
Cha Thầy là người trồng nho. 2 Cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh hoa
trái, thì Người chặt đi ; còn cành nào sinh hoa trái, thì Người cắt tỉa cho nó
sinh nhiều hoa trái hơn. 3 Anh em
được thanh sạch rồi nhờ lời Thầy đã nói với anh em. 4 Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở
lại trong anh em. Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không
gắn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy.
5 Thầy là cây nho, anh em là
cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều
hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được. 6 Ai không ở lại trong Thầy, thì
bị quăng ra ngoài như cành nho và sẽ khô héo. Người ta nhặt lấy, quăng vào lửa
cho nó cháy đi. 7 Nếu anh em
ở lại trong Thầy và lời Thầy ở lại trong anh em, thì muốn gì, anh em cứ xin,
anh em sẽ được như ý. 8 Điều làm
Chúa Cha được tôn vinh là : Anh em sinh nhiều hoa trái và trở thành môn đệ của
Thầy.
9 Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế
nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của
Thầy. 10 Nếu anh em
giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy
đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người. 11 Các điều ấy, Thầy đã nói với anh
em để anh em được hưởng niềm vui của Thầy, và niềm vui của anh em được nên trọn
vẹn.
12 Đây là điều răn của Thầy : anh
em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. 13 Không có tình thương nào cao cả
hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. 14 Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu
anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy. 15 Thầy không còn gọi anh em là
tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn
hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết.
16 Không phải anh em đã chọn Thầy,
nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được
hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại, hầu tất cả những gì anh em xin cùng
Chúa Cha nhân danh Thầy, thì Người ban cho anh em. 17 Điều Thầy truyền dạy anh em là
hãy yêu thương nhau.
18 Nếu thế gian ghét anh em, anh
em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước. 19 Giả như anh em thuộc về thế
gian, thì thế gian đã yêu thích cái gì là của nó. Nhưng vì anh em không thuộc
về thế gian và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét
anh em. 20 Hãy nhớ
lời Thầy đã nói với anh em : tôi tớ không lớn hơn chủ nhà. Nếu họ đã bắt bớ
Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em. Nếu họ đã tuân giữ lời Thầy, họ cũng sẽ tuân
giữ lời anh em. 21 Nhưng họ
sẽ làm tất cả những điều ấy chống lại anh em, vì anh em mang danh Thầy, bởi họ
không biết Đấng đã sai Thầy.
22 Giả như Thầy không đến và không
nói với họ, họ đã chẳng có tội. Nhưng bây giờ, họ không thể chữa tội được. 23 Ai ghét Thầy, thì cũng ghét Cha
Thầy. 24 Giả như
Thầy không làm giữa họ những việc không một ai khác đã làm, họ đã không có tội.
Nhưng nay họ thấy rồi mà vẫn ghét cả Thầy lẫn Cha Thầy. 25 Như thế là ứng nghiệm lời đã
viết trong Sách Luật của họ : Chúng ghét con vô cớ.
26 Khi Đấng Bảo Trợ đến, Đấng mà
Thầy sẽ sai đến với anh em từ nơi Chúa Cha, Người là Thần Khí sự thật phát xuất
từ Chúa Cha, Người sẽ làm chứng về Thầy. 27 Cả anh em nữa, anh em cũng làm
chứng, vì anh em ở với Thầy ngay từ đầu.
16,1 Thầy đã nói với anh em các điều
ấy, để anh em khỏi bị vấp ngã. 2 Họ sẽ khai trừ anh em khỏi hội đường. Hơn nữa,
sẽ đến giờ kẻ nào giết anh em cũng tưởng mình phụng thờ Thiên Chúa. 3 Họ sẽ làm như thế, bởi vì họ
không biết Chúa Cha cũng chẳng biết Thầy. 4 Nhưng Thầy đã nói với anh em
những điều ấy, để khi đến giờ họ hành động, anh em nhớ lại là Thầy đã nói với
anh em rồi."Những điều ấy, Thầy đã không nói với anh em ngay từ đầu, vì
lúc ấy Thầy còn ở với anh em. 5 Bây giờ Thầy đến cùng Đấng đã sai Thầy, và
không ai trong anh em hỏi : 'Thầy đi đâu ?' 6 Nhưng vì Thầy nói ra các điều
ấy, nên lòng anh em tràn ngập ưu phiền. 7 Song, Thầy nói thật với anh em
: Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo
Trợ sẽ không đến với anh em ; nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với
anh em. 8 Khi Người
đến, Người sẽ chứng minh rằng thế gian sai lầm về tội lỗi, về sự công chính và
việc xét xử : 9 về tội lỗi
: vì chúng không tin vào Thầy ; 10 về sự công chính : vì Thầy đến cùng Chúa Cha,
và anh em không còn thấy Thầy nữa ; 11 về việc xét xử : vì Thủ lãnh
thế gian này đã bị xét xử rồi.
12 Thầy còn nhiều điều phải nói
với anh em. Nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu nổi. 13 Khi nào Thần Khí sự thật đến,
Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì,
nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết
những điều sẽ xảy đến. 14 Người sẽ
tôn vinh Thầy, vì Người sẽ lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em. 15 Mọi sự Chúa Cha có đều là của
Thầy. Vì thế, Thầy đã nói : Người lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em.
16 "Ít lâu nữa, anh em sẽ
không còn trông thấy Thầy, rồi ít lâu nữa, anh em sẽ lại thấy Thầy."
17 Bấy giờ vài người trong nhóm
môn đệ của Đức Giê-su hỏi nhau : "Người muốn nói gì khi bảo chúng ta : '
Ít lâu nữa, anh em sẽ không trông thấy Thầy, rồi ít lâu nữa, anh em sẽ lại thấy
Thầy ' và ' Thầy đến cùng Chúa Cha ' ?" 18 Vậy các ông nói : "' Ít
lâu nữa ' nghĩa là gì ? Chúng ta không hiểu Người nói gì !" 19 Đức Giê-su biết là các ông muốn
hỏi mình, nên bảo các ông : "Anh em bàn luận với nhau về lời Thầy nói : '
Ít lâu nữa, anh em sẽ không trông thấy Thầy, rồi ít lâu nữa, anh em sẽ lại thấy
Thầy '. 20 Thật, Thầy
bảo thật anh em : anh em sẽ khóc lóc và than van, còn thế gian sẽ vui mừng. Anh
em sẽ lo buồn, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui. 21 Khi sinh con, người đàn bà lo
buồn vì đến giờ của mình ; nhưng sinh con rồi, thì không còn nhớ đến cơn gian
nan nữa, bởi được chan chứa niềm vui vì một con người đã sinh ra trong thế
gian. 22 Anh em
cũng vậy, bây giờ anh em lo buồn, nhưng Thầy sẽ gặp lại anh em, lòng anh em sẽ
vui mừng ; và niềm vui của anh em, không ai lấy mất được. 23 Ngày ấy, anh em không còn phải
hỏi Thầy gì nữa. Thật, Thầy bảo thật anh em : anh em mà xin Chúa Cha điều gì, thì
Người sẽ ban cho anh em nhân danh Thầy. 24 Cho đến nay, anh em đã chẳng
xin gì nhân danh Thầy. Cứ xin đi, anh em sẽ được, để niềm vui của anh em nên
trọn vẹn.
25 Thầy đã dùng dụ ngôn mà nói
những điều ấy với anh em. Sẽ đến giờ Thầy không còn dùng dụ ngôn mà nói với anh
em nữa, nhưng Thầy sẽ nói rõ cho anh em về Chúa Cha, không còn úp mở. 26 Ngày ấy, anh em sẽ nhân danh
Thầy mà xin, và Thầy không nói với anh em là Thầy sẽ cầu xin Chúa Cha cho anh
em. 27 Thật vậy,
chính Chúa Cha yêu mến anh em, vì anh em đã yêu mến Thầy, và tin rằng Thầy từ
Thiên Chúa mà đến. 28 Thầy từ
Chúa Cha mà đến và Thầy đã đến thế gian. Thầy lại bỏ thế gian mà đến cùng Chúa
Cha."
29 Các môn đệ Người thưa :
"Đấy, bây giờ Thầy nói rõ, chứ không còn dùng dụ ngôn nào nữa. 30 Giờ đây, chúng con nhận ra là
Thầy biết hết mọi sự, và Thầy không cần phải có ai hỏi Thầy. Vì thế, chúng con
tin Thầy từ Thiên Chúa mà đến." 31 Đức Giê-su đáp : "Bây giờ
anh em tin à ? 32 Này đến
giờ -và giờ ấy đã đến rồi- anh em sẽ bị phân tán mỗi người mỗi ngả và để Thầy
cô độc một mình. Nhưng Thầy không cô độc đâu, vì Chúa Cha ở với Thầy. 33 Thầy nói với anh em những điều
ấy, để trong Thầy anh em được bình an. Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan
khốn khó. Nhưng can đảm lên ! Thầy đã thắng thế gian."
17,1 Nói thế xong, Đức Giê-su ngước
mắt lên trời và cầu nguyện : "Lạy Cha, giờ đã đến ! Xin Cha tôn vinh Con
Cha để Con Cha tôn vinh Cha. 2 Thật vậy, Cha đã ban cho Người quyền trên mọi
phàm nhân là để Người ban sự sống đời đời cho tất cả những ai Cha đã ban cho Người.
3 Mà sự sống
đời đời đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết
Đấng Cha đã sai đến, là Giê-su Ki-tô.
4 Phần con, con đã tôn vinh Cha ở
dưới đất, khi hoàn tất công trình Cha đã giao cho con làm. 5 Vậy, lạy Cha, giờ đây, xin Cha
tôn vinh con bên Cha : xin ban cho con vinh quang mà con vẫn được hưởng bên Cha
trước khi có thế gian. 6 Những kẻ
Cha đã chọn từ giữa thế gian mà ban cho con, con đã cho họ biết danh Cha. Họ
thuộc về Cha, Cha đã ban họ cho con, và họ đã tuân giữ lời Cha. 7 Giờ đây, họ biết rằng tất cả
những gì Cha ban cho con đều do bởi Cha, 8 vì con đã ban cho họ lời mà Cha
đã ban cho con ; họ đã nhận những lời ấy, họ biết thật rằng con đã từ Cha mà
đến, và họ đã tin là Cha đã sai con.
9 Con cầu nguyện cho họ. Con không
cầu nguyện cho thế gian, nhưng cho những kẻ Cha đã ban cho con, bởi vì họ thuộc
về Cha. 10 Tất cả
những gì của con đều là của Cha, tất cả những gì của Cha đều là của con ; và
con được tôn vinh nơi họ. 11 Con không
còn ở trong thế gian nữa, nhưng họ, họ ở trong thế gian ; phần con, con đến
cùng Cha.
Lạy Cha chí thánh, xin gìn giữ các môn đệ trong danh Cha mà Cha đã ban
cho con, để họ nên một như chúng ta. 12 Khi còn ở với họ, con đã gìn
giữ họ trong danh Cha mà Cha đã ban cho con. Con đã canh giữ, và không một ai
trong họ phải hư mất, trừ đứa con hư hỏng, để ứng nghiệm lời Kinh Thánh. 13 Bây giờ, con đến cùng Cha, và
con nói những điều này lúc còn ở thế gian, để họ được hưởng trọn vẹn niềm vui
của con. 14 Con đã
truyền lại cho họ lời của Cha, và thế gian đã ghét họ, vì họ không thuộc về thế
gian, cũng như con đây không thuộc về thế gian. 15 Con không xin Cha cất họ khỏi
thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần. 16 Họ không thuộc về thế gian cũng
như con đây không thuộc về thế gian. 17 Xin Cha lấy sự thật mà thánh
hiến họ. Lời Cha là sự thật. 18 Như Cha đã sai con đến thế gian, thì con cũng
sai họ đến thế gian. 19 Vì họ, con
xin thánh hiến chính mình con, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến.
20 Con không chỉ cầu nguyện cho
những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, 21 để tất cả nên một, như Cha ở
trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ
tin rằng Cha đã sai con. 22 Phần con,
con đã ban cho họ vinh quang mà Cha đã ban cho con, để họ được nên một như
chúng ta là một : 23 Con ở
trong họ và Cha ở trong con, để họ được hoàn toàn nên một ; như vậy, thế gian
sẽ nhận biết là chính Cha đã sai con và đã yêu thương họ như đã yêu thương con.
24 Lạy Cha, con muốn rằng con ở
đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con, để họ chiêm ngưỡng
vinh quang của con, vinh quang mà Cha đã ban cho con, vì Cha đã yêu thương con
trước khi thế gian được tạo thành. 25 Lạy Cha là Đấng công chính, thế
gian đã không biết Cha, nhưng con, con đã biết Cha, và những người này đã biết
là chính Cha đã sai con. 26 Con đã cho
họ biết danh Cha, và sẽ còn cho họ biết nữa, để tình Cha đã yêu thương con, ở
trong họ, và con cũng ở trong họ nữa."
18,1 Sau khi nói những lời đó, Đức
Giê-su đi ra cùng với các môn đệ, sang bên kia suối Kít-rôn. Ở đó, có một thửa
vườn, Người cùng với các môn đệ đi vào. 2 Giu-đa, kẻ nộp Người, cũng biết
nơi này, vì Người thường tụ họp ở đó với các môn đệ. 3 Vậy, Giu-đa tới đó, dẫn một
toán quân cùng đám thuộc hạ của các thượng tế và nhóm Pha-ri-sêu ; họ mang theo
đèn đuốc và khí giới. 4 Đức Giê-su
biết mọi việc sắp xảy đến cho mình, nên tiến ra và hỏi : "Các anh tìm ai
?" 5 Họ đáp :
"Tìm Giê-su Na-da-rét." Người nói : "Chính tôi đây."
Giu-đa, kẻ nộp Người, cũng đứng chung với họ. 6 Khi Người vừa nói : "Chính
tôi đây", thì họ lùi lại và ngã xuống đất. 7 Người lại hỏi một lần nữa :
"Các anh tìm ai ?" Họ đáp : "Tìm Giê-su Na-da-rét." 8 Đức Giê-su nói : "Tôi đã
bảo các anh là chính tôi đây. Vậy, nếu các anh tìm bắt tôi, thì hãy để cho
những người này đi." 9 Thế là ứng
nghiệm lời Đức Giê-su đã nói: "Những người Cha đã ban cho con, con không
để mất một ai."
10 Ông Si-môn Phê-rô có sẵn một
thanh gươm, bèn tuốt ra, nhằm người đầy tớ vị thượng tế, mà chém đứt tai phải
của y. Người đầy tớ ấy tên là Man-khô. 11 Đức Giê-su nói với ông Phê-rô :
"Hãy xỏ gươm vào bao. Chén mà Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng
uống ?"
12 Bấy giờ toán quân và viên chỉ
huy cùng đám thuộc hạ của người Do-thái bắt Đức Giê-su và trói Người lại. 13 Trước tiên, họ điệu Đức Giê-su
đến ông Kha-nan là nhạc phụ ông Cai-pha. Ông Cai-pha làm thượng tế năm đó. 14 Chính ông này đã đề nghị với
người Do-thái là nên để một người chết thay cho dân thì hơn.
15 Ông Si-môn Phê-rô và một môn đệ
khác đi theo Đức Giê-su. Người môn đệ này quen biết vị thượng tế, nên cùng với
Đức Giê-su vào sân trong của tư dinh vị thượng tế. 16 Còn ông Phê-rô đứng ở phía
ngoài, gần cổng. Người môn đệ kia quen biết vị thượng tế ra nói với chị giữ
cổng, rồi dẫn ông Phê-rô vào. 17 Người tớ gái giữ cổng nói với ông Phê-rô :
"Cả bác nữa, bác không thuộc nhóm môn đệ của người ấy sao ?" Ông liền
đáp : "Đâu phải." 18 Vì trời lạnh, các đầy tớ và thuộc hạ đốt than
và đứng sưởi ở đó ; ông Phê-rô cũng đứng sưởi với họ. 19 Vị thượng tế tra hỏi Đức Giê-su
về các môn đệ và giáo huấn của Người. 20 Đức Giê-su trả lời : "Tôi
đã nói công khai trước mặt thiên hạ ; tôi hằng giảng dạy trong hội đường và tại
Đền Thờ, nơi mọi người Do-thái tụ họp. Tôi không hề nói điều gì lén lút. 21 Sao ông lại hỏi tôi ? Điều tôi
đã nói, xin cứ hỏi những người đã nghe tôi. Chính họ biết tôi đã nói gì." 22 Đức Giê-su vừa dứt lời, thì một
tên trong nhóm thuộc hạ đứng đó vả vào mặt Người mà nói : "Anh trả lời vị
thượng tế như thế ư ?" 23 Đức Giê-su đáp : "Nếu tôi nói sai, anh
chứng minh xem sai ở chỗ nào ; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi
?" 24 Ông
Kha-nan cho giải Người đến thượng tế Cai-pha, Người vẫn bị trói.
25 Còn ông Si-môn Phê-rô thì vẫn
đứng sưởi ở đó. Người ta nói với ông : "Cả bác nữa, bác không thuộc nhóm
môn đệ của ông ấy sao ?" Ông liền chối : "Đâu phải." 26 Một trong các đầy tớ của vị
thượng tế, có họ với người bị ông Phê-rô chém đứt tai, lên tiếng hỏi :
"Tôi đã chẳng thấy bác ở trong vườn với ông ấy sao ?" 27 Một lần nữa ông Phê-rô lại
chối, và ngay lúc ấy gà liền gáy.
28 Vậy, người Do-thái điệu Đức
Giê-su từ nhà ông Cai-pha đến dinh tổng trấn. Lúc đó trời vừa sáng. Nhưng họ
không vào dinh kẻo bị nhiễm uế mà không ăn lễ Vượt Qua được. 29 Vì thế, tổng trấn Phi-la-tô ra
ngoài gặp họ và hỏi : "Các người tố cáo ông này về tội gì ?" 30 Họ đáp : "Nếu ông này
không làm điều ác, thì chúng tôi đã chẳng đem nộp cho quan." 31 Ông Phi-la-tô bảo họ :
"Các người cứ đem ông ta đi mà xét xử theo luật của các người." Người
Do-thái đáp : "Chúng tôi không có quyền xử tử ai cả." 32 Thế là ứng nghiệm lời Đức
Giê-su đã nói, khi ám chỉ Người sẽ phải chết cách nào.
33 Ông Phi-la-tô trở vào dinh, cho
gọi Đức Giê-su và nói với Người : "Ông có phải là vua dân Do-thái không
?" 34 Đức Giê-su
đáp : "Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi
?" 35 Ông
Phi-la-tô trả lời : "Tôi là người Do-thái sao ? Chính dân của ông và các
thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì ?" 36 Đức Giê-su trả lời : "Nước
tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ
của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do-thái. Nhưng thật ra Nước
tôi không thuộc chốn này." 37 Ông Phi-la-tô liền hỏi : "Vậy ông là vua
sao ?" Đức Giê-su đáp : "Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh
ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này : làm chứng cho sự thật. Ai đứng về
phía sự thật thì nghe tiếng tôi." 38 Ông Phi-la-tô nói với Người :
"Sự thật là gì ?"
Nói thế rồi, ông lại ra gặp người Do-thái và bảo họ : "Phần ta,
ta không tìm thấy lý do nào để kết tội ông ấy. 39 Theo tục lệ của các người, vào
dịp lễ Vượt Qua, ta thường tha một người nào đó cho các người. Vậy các người có
muốn ta tha vua dân Do-thái cho các người không ?" 40 Họ lại la lên rằng : "Đừng
tha nó, nhưng xin tha Ba-ra-ba !" Mà Ba-ra-ba là một tên cướp.
19,1 Bấy giờ ông Phi-la-tô truyền
đem Đức Giê-su đi và đánh đòn Người. 2 Bọn lính kết một vòng gai làm
vương miện, đặt lên đầu Người, và khoác cho Người một áo choàng đỏ. 3 Họ đến gần và nói : "Kính
chào Vua dân Do-thái !", rồi vả vào mặt Người.
4 Ông Phi-la-tô lại ra ngoài và
nói với người Do-thái : "Đây ta dẫn ông ấy ra ngoài cho các người, để các
người biết là ta không tìm thấy lý do nào để kết tội ông ấy." 5 Vậy, Đức Giê-su bước ra ngoài,
đầu đội vương miện bằng gai, mình khoác áo choàng đỏ. Ông Phi-la-tô nói với họ
: "Đây là người !" 6 Khi vừa thấy Đức Giê-su, các thượng tế cùng
các thuộc hạ liền kêu lên rằng : "Đóng đinh, đóng đinh nó vào thập giá
!" Ông Phi-la-tô bảo họ : "Các người cứ đem ông này đi mà đóng đinh
vào thập giá, vì phần ta, ta không tìm thấy lý do để kết tội ông ấy." 7 Người Do-thái đáp lại :
"Chúng tôi có Lề Luật ; và chiếu theo Lề Luật, thì nó phải chết, vì nó đã
xưng mình là Con Thiên Chúa."
8 Nghe lời đó, ông Phi-la-tô càng
sợ hơn nữa. 9 Ông lại
trở vào dinh và nói với Đức Giê-su : "Ông từ đâu mà đến ?" Nhưng Đức
Giê-su không trả lời. 10 Ông
Phi-la-tô mới nói với Người : "Ông không trả lời tôi ư ? Ông không biết
rằng tôi có quyền tha và cũng có quyền đóng đinh ông vào thập giá sao ?" 11 Đức Giê-su đáp lại : "Ngài
không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ngài. Vì thế, kẻ nộp tôi
cho ngài thì mắc tội nặng hơn."
12 Từ đó, ông Phi-la-tô tìm cách
tha Người. Nhưng dân Do-thái kêu lên rằng : "Nếu ngài tha nó, ngài không
phải là bạn của Xê-da. Ai xưng mình là vua, thì chống lại Xê-da." 13 Khi nghe thấy thế, ông
Phi-la-tô truyền dẫn Đức Giê-su ra ngoài. Ông đặt Người ngồi trên toà, ở nơi
gọi là Nền Đá, tiếng Híp-ri là Gáp-ba-tha. 14 Hôm ấy là ngày áp lễ Vượt Qua,
vào khoảng mười hai giờ trưa. Ông Phi-la-tô nói với người Do-thái : "Đây
là vua các người !" 15 Họ liền hô
lớn : "Đem đi! Đem nó đi ! Đóng đinh nó vào thập giá !" Ông Phi-la-tô
nói với họ : "Chẳng lẽ ta lại đóng đinh vua các người sao ?" Các
thượng tế đáp : "Chúng tôi không có vua nào cả, ngoài Xê-da." 16 Bấy giờ ông Phi-la-tô trao Đức
Giê-su cho họ đóng đinh vào thập giá.Vậy họ điệu Đức Giê-su đi. 17 Chính Người vác lấy thập giá đi
ra, đến nơi gọi là Cái Sọ, tiếng Híp-ri là Gôn-gô-tha ; 18 tại đó, họ đóng đinh Người vào
thập giá, đồng thời cũng đóng đinh hai người khác nữa, mỗi người một bên, còn
Đức Giê-su thì ở giữa. 19 Ông
Phi-la-tô cho viết một tấm bảng và treo trên thập giá ; bảng đó có ghi :
"Giê-su Na-da-rét, Vua dân Do-thái." 20 Trong dân Do-thái, có nhiều
người đọc được bảng đó, vì nơi Đức Giê-su bị đóng đinh là một địa điểm ở gần
thành. Tấm bảng này viết bằng các tiếng : Híp-ri, La-tinh và Hy-lạp. 21 Các thượng tế của người Do-thái
nói với ông Phi-la-tô : "Xin ngài đừng viết : ' Vua dân Do-thái ', nhưng
viết : ' Tên này đã nói : Ta là Vua dân Do-thái '." 22 Ông Phi-la-tô trả lời: "Ta
viết sao, cứ để vậy !"
23 Đóng đinh Đức Giê-su vào thập
giá xong, lính tráng lấy áo xống của Người chia làm bốn phần, mỗi người một
phần ; họ lấy cả chiếc áo dài nữa. Nhưng chiếc áo dài này không có đường khâu,
dệt liền từ trên xuống dưới. 24 Vậy họ nói với nhau : "Đừng xé áo ra, cứ
bắt thăm xem ai được." Thế là ứng nghiệm lời Kinh Thánh : Áo xống tôi,
chúng đem chia chác, cả áo dài, cũng bắt thăm luôn. Đó là những điều lính tráng
đã làm.
25 Đứng gần thập giá Đức Giê-su,
có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Ma-ri-a vợ ông Cơ-lô-pát, cùng với bà
Ma-ri-a Mác-đa-la. 26 Khi thấy
thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giê-su nói với thân mẫu
rằng : "Thưa Bà, đây là con của Bà." 27 Rồi Người nói với môn đệ :
"Đây là mẹ của anh." Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.
28 Sau đó, Đức Giê-su biết là mọi
sự đã hoàn tất. Và để ứng nghiệm lời Kinh Thánh, Người nói : "Tôi khát
!" 29 Ở đó, có
một bình đầy giấm. Người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một
nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Người. 30 Nhắp xong, Đức Giê-su nói :
"Thế là đã hoàn tất !" Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí.
31 Hôm đó là ngày áp lễ, người
Do-thái không muốn để xác chết trên thập giá trong ngày sa-bát, mà ngày sa-bát
đó lại là ngày lễ lớn. Vì thế họ xin ông Phi-la-tô cho đánh giập ống chân các
người bị đóng đinh và lấy xác xuống. 32 Quân lính đến, đánh giập ống
chân người thứ nhất và người thứ hai cùng bị đóng đinh với Đức Giê-su. 33 Khi đến gần Đức Giê-su và thấy
Người đã chết, họ không đánh giập ống chân Người. 34 Nhưng một người lính lấy giáo
đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì, máu cùng nước chảy ra. 35 Người xem thấy việc này đã làm
chứng, và lời chứng của người ấy xác thực ; và người ấy biết mình nói sự thật
để cho cả anh em nữa cũng tin. 36 Các việc này đã xảy ra để ứng nghiệm lời Kinh
Thánh : Không một khúc xương nào của Người sẽ bị đánh giập. 37 Lại có lời Kinh Thánh khác : Họ
sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu.
38 Sau đó, ông Giô-xếp, người
A-ri-ma-thê, xin ông Phi-la-tô cho phép hạ thi hài Đức Giê-su xuống. Ông
Giô-xếp này là một môn đệ theo Đức Giê-su, nhưng cách kín đáo, vì sợ người
Do-thái. Ông Phi-la-tô chấp thuận. Vậy, ông Giô-xếp đến hạ thi hài Người xuống.
39 Ông
Ni-cô-đê-mô cũng đến. Ông này trước kia đã tới gặp Đức Giê-su ban đêm. Ông mang
theo chừng một trăm cân mộc dược trộn với trầm hương. 40 Các ông lãnh thi hài Đức
Giê-su, lấy băng vải tẩm thuốc thơm mà quấn, theo tục lệ chôn cất của người
Do-thái. 41 Nơi Đức
Giê-su bị đóng đinh có một thửa vườn, và trong vườn, có một ngôi mộ còn mới,
chưa chôn cất ai. 42 Vì hôm ấy
là ngày áp lễ của người Do-thái, mà ngôi mộ lại gần bên, nên các ông mai táng
Đức Giê-su ở đó.
20,1 Sáng sớm ngày thứ nhất trong
tuần, lúc trời còn tối, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn
khỏi mộ. 2 Bà liền chạy
về gặp ông Si-môn Phê-rô và người môn đệ Đức Giê-su thương mến. Bà nói :
"Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở
đâu."
3 Ông Phê-rô và môn đệ kia liền
đi ra mộ. 4 Cả hai
người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phê-rô và đã tới mộ trước. 5 Ông cúi xuống và nhìn thấy
những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. 6 Ông Si-môn Phê-rô theo sau cũng
đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, 7 và khăn che đầu Đức Giê-su.
Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. 8 Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã
tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin. 9 Thật vậy, trước đó, hai ông
chưa hiểu rằng : theo Kinh Thánh, Đức Giê-su phải chỗi dậy từ cõi chết. 10 Sau đó, các môn đệ lại trở về
nhà.
11 Bà Ma-ri-a Mác-đa-la đứng ở
ngoài, gần bên mộ, mà khóc. Bà vừa khóc vừa cúi xuống nhìn vào trong mộ, 12 thì thấy hai thiên thần mặc áo
trắng ngồi ở nơi đã đặt thi hài của Đức Giê-su, một vị ở phía đầu, một vị ở
phía chân. 13 Thiên thần
hỏi bà : "Này bà, sao bà khóc ?" Bà thưa : "Người ta đã lấy mất
Chúa tôi rồi, và tôi không biết họ để Người ở đâu !" 14 Nói xong, bà quay lại và thấy
Đức Giê-su đứng đó, nhưng bà không biết là Đức Giê-su. 15 Đức Giê-su nói với bà :
"Này bà, sao bà khóc ? Bà tìm ai ?" Bà Ma-ri-a tưởng là người làm
vườn, liền nói : "Thưa ông, nếu ông đã đem Người đi, thì xin nói cho tôi
biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về." 16 Đức Giê-su gọi bà :
"Ma-ri-a !" Bà quay lại và nói bằng tiếng Híp-ri : "Ráp-bu-ni
!" (nghĩa là 'Lạy Thầy'). 17 Đức Giê-su bảo : "Thôi,
đừng giữ Thầy lại, vì Thầy chưa lên cùng Chúa Cha. Nhưng hãy đi gặp anh em Thầy
và bảo họ : ' Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng
Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em '." 18 Bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi báo cho
các môn đệ : "Tôi đã thấy Chúa", và bà kể lại những điều Người đã nói
với bà.
19 Vào chiều ngày ấy, ngày thứ
nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người
Do-thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói : "Bình an cho anh em
!" 20 Nói xong,
Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. 21 Người lại nói với các ông :
"Bình an cho anh em ! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh
em." 22 Nói xong,
Người thổi hơi vào các ông và bảo : "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. 23 Anh em tha tội cho ai, thì
người ấy được tha ; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ."
24 Một người trong Nhóm Mười Hai,
tên là Tô-ma, cũng gọi là Đi-đy-mô, không ở với các ông khi Đức Giê-su đến. 25 Các môn đệ khác nói với ông :
"Chúng tôi đã được thấy Chúa!" Ông Tô-ma đáp : "Nếu tôi không
thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt
bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin." 26 Tám ngày sau, các môn đệ Đức
Giê-su lại có mặt trong nhà, có cả ông Tô-ma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng
kín. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói : "Bình an cho anh em."
27 Rồi Người
bảo ông Tô-ma : "Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay
ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin." 28 Ông Tô-ma thưa Người :
"Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con !" 29 Đức Giê-su bảo : "Vì đã
thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin !"
30 Đức Giê-su đã làm nhiều dấu lạ
khác nữa trước mặt các môn đệ ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong
sách này. 31 Còn những
điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con
Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người.
21,1 Sau đó, Đức Giê-su lại tỏ mình
ra cho các môn đệ ở Biển Hồ Ti-bê-ri-a. Người tỏ mình ra như thế này. 2 Ông Si-môn Phê-rô, ông Tô-ma
gọi là Đi-đy-mô, ông Na-tha-na-en người Ca-na miền Ga-li-lê, các người con ông
Dê-bê-đê và hai môn đệ khác nữa, tất cả đang ở với nhau. 3 Ông Si-môn Phê-rô nói với các
ông : "Tôi đi đánh cá đây." Các ông đáp : "Chúng tôi cùng đi với
anh." Rồi mọi người ra đi, lên thuyền, nhưng đêm ấy họ không bắt được gì
cả.
4 Khi trời đã sáng, Đức Giê-su
đứng trên bãi biển, nhưng các môn đệ không nhận ra đó chính là Đức Giê-su. 5 Người nói với các ông :
"Này các chú, không có gì ăn ư ?" Các ông trả lời : "Thưa
không." 6 Người bảo
các ông : "Cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền đi, thì sẽ bắt được
cá." Các ông thả lưới xuống, nhưng không sao kéo lên nổi, vì lưới đầy
những cá. 7 Người môn
đệ được Đức Giê-su thương mến nói với ông Phê-rô : "Chúa đó !" Vừa
nghe nói "Chúa đó !", ông Si-môn Phê-rô vội khoác áo vào vì đang ở
trần, rồi nhảy xuống biển. 8 Các môn đệ khác chèo thuyền vào bờ kéo theo
lưới đầy cá, vì các ông không xa bờ lắm, chỉ cách vào khoảng gần một trăm
thước.
9 Bước lên bờ, các ông nhìn thấy
có sẵn than hồng với cá đặt ở trên, và có cả bánh nữa. 10 Đức Giê-su bảo các ông :
"Đem ít cá mới bắt được tới đây !" 11 Ông Si-môn Phê-rô lên thuyền, rồi
kéo lưới vào bờ. Lưới đầy những cá lớn, đếm được một trăm năm mươi ba con. Cá
nhiều như vậy mà lưới không bị rách. 12 Đức Giê-su nói : "Anh em
đến mà ăn !" Không ai trong các môn đệ dám hỏi "Ông là ai ?", vì
các ông biết rằng đó là Chúa. 13 Đức Giê-su đến, cầm lấy bánh trao cho các ông
; rồi cá, Người cũng làm như vậy. 14 Đó là lần thứ ba Đức Giê-su tỏ
mình ra cho các môn đệ, sau khi chỗi dậy từ cõi chết. 15 Khi các môn đệ ăn xong, Đức
Giê-su hỏi ông Si-môn Phê-rô : "Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có mến
Thầy hơn các anh em này không ?" Ông đáp : "Thưa Thầy có, Thầy biết
con yêu mến Thầy." Đức Giê-su nói với ông : "Hãy chăm sóc chiên con
của Thầy." 16 Người lại
hỏi : "Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có mến Thầy không ?" Ông
đáp : "Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy." Người nói :
"Hãy chăn dắt chiên của Thầy." 17 Người hỏi lần thứ ba :
"Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy không ?" Ông
Phê-rô buồn vì Người hỏi tới ba lần : "Anh có yêu mến Thầy không ?"
Ông đáp : "Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự ; Thầy biết con yêu mến
Thầy." Đức Giê-su bảo : "Hãy chăm sóc chiên của Thầy. 18 Thật, Thầy bảo thật cho anh
biết : lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tuỳ ý. Nhưng khi đã về
già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh
chẳng muốn." 19 Người nói
vậy, có ý ám chỉ ông sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa. Thế rồi,
Người bảo ông : "Hãy theo Thầy."
20 Ông Phê-rô quay lại, thì thấy
người môn đệ Đức Giê-su thương mến đi theo sau ; ông này là người đã nghiêng
mình vào ngực Đức Giê-su trong bữa ăn tối và hỏi : "Thưa Thầy, ai là kẻ
nộp Thầy ?" 21 Vậy khi
thấy người đó, ông Phê-rô nói với Đức Giê-su : "Thưa Thầy, còn anh này thì
sao ?" 22 Đức Giê-su
đáp : "Giả như Thầy muốn anh ấy còn ở lại cho tới khi Thầy đến, thì việc
gì đến anh ? Phần anh, hãy theo Thầy." 23 Do đó, mới có tiếng đồn giữa
anh em là môn đệ ấy sẽ không chết. Nhưng Đức Giê-su đã không nói với ông Phê-rô
là : "Anh ấy sẽ không chết", mà chỉ nói : "Giả như Thầy muốn anh
ấy còn ở lại cho tới khi Thầy đến, thì việc gì đến anh ?"
24 Chính môn đệ này làm chứng về
những điều đó và đã viết ra. Chúng tôi biết rằng lời chứng của người ấy là xác
thực.
25 Còn có nhiều điều khác Đức
Giê-su đã làm. Nếu viết lại từng điều một, thì tôi thiết nghĩ : cả thế giới
cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra.
x
x
x
Nhận xét
Đăng nhận xét